BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Chủ Nhật, 13 tháng 09, 2026

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

Phần VII: NHỮNG ẨN DỤ TỪ KINH ĐIỂN

- HOÁ GIẢI MÂU THUẨN NỘI TẠI - Dụ ngôn "Sáu Con Vật" .  

 http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Du-ngon-22.jpg                                                                      

 Trong lịch sử tư tưởng nhân loại và nỗ lực tự hoàn thiện tâm linh, bi kịch phổ biến nhất của con người không hẳn nằm ở sự thiếu thốn tri thức, mà nằm ở sự bất lực trong việc làm chủ dòng chảy xung động nội tại. Con người tìm kiếm tự do, an lạc nơi thế giới bên ngoài, nhưng trớ trêu thay, chính sự buông lung của sáu giác quan theo các trần cảnh lại biến nội tâm thành một bãi chiến trường của những giằng xé nhị nguyên: tham đắm điều khả ái và chối bỏ điều nghịch ý. Sự thất niệm ấy đẩy tâm thức vào tình trạng lưu đày vĩnh viễn trong các đối tượng cảm giác, khiến ngọn lửa bất an không bao giờ tắt.

Dụ Ngôn

Dụ ngôn được tìm thấy trong Kinh Sáu Con Vật (Chappāṇa Sutta, thuộc Tương Ưng Bộ Kinh – Saṁyutta Nikāya, tập IV, Tương Ưng Sáu Xứ, kinh số SN 35.206): Dụ ngôn người buộc sáu con thú.

“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya. Ahiṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya, susumāraṁ gahetvā… pakkhiṁ gahetvā… kukkuraṁ gahetvā… siṅgālaṁ gahetvā… makkaṭaṁ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. Daḷhāya rajjuyā bandhitvā majjhe gaṇṭhiṁ karitvā ossajjeyya.

Atha kho te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṁ sakaṁ gocaravisayaṁ āviñcheyyuṁ — ahi āviñcheyya: ‘vammikaṁ pavisissāmī’ti, susumāro āviñcheyya: ‘udakaṁ pavisissāmī’ti, pakkhī āviñcheyya: ‘ākāsaṁ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya: ‘gāmaṁ pavisissāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya: ‘sīvathikaṁ pavisissāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya: ‘vanaṁ pavisissāmī’ti.

Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā kilantā assu, atha kho yaṁ nesaṁ pāṇakānaṁ balavataro, tassa te anuvidheyyuṁ, tassa vasaṁ gaccheyyuṁ. Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, tassa cakkhu āviñchati manāpikesu rūpesu, amanāpā rūpā paṭikkūlā honti… jivhā āviñchati… mano āviñchati manāpikesu dhammesu, amanāpā dhammā paṭikkūlā honti. Evaṁ kho, bhikkhave, asaṁvaro hoti.

Seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā… daḷhāya rajjuyā bandhitvā daḷhe khīle vā thambhe vā upanibandheyya… Yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā kilantā assu, atha tattheva upatiṭṭheyyuṁ upanisīdeyyuṁ upanipajjeyyuṁ tamhi khīle vā thambhe vā. Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā… Evaṁ kho, bhikkhave, saṁvaro hoti.”

"Này các Tỷ khưu, ví như có một người bắt sáu con vật có địa bàn và môi trường sống khác nhau, rồi dùng một sợi dây thừng chắc chắn cột chúng lại. Bắt một con rắn, người ấy cột nó bằng dây thừng chắc. Bắt một con cá sấu… một con chim… một con chó… một con chó rừng… một con khỉ, người ấy cột nó bằng dây thừng chắc. Sau khi buộc tất cả chúng lại bằng dây thừng chắc và thắt một nút ở giữa, người ấy thả cho chúng chạy.

Khi ấy, sáu con vật với các địa bàn và môi trường sống khác nhau, mỗi con đều lôi kéo về phía môi trường kiếm ăn quen thuộc của riêng mình:

  • Con rắn kéo đi, nghĩ rằng: 'Ta sẽ chui vào gò mối.'
  • Con cá sấu kéo đi, nghĩ rằng: 'Ta sẽ lao xuống nước.'
  • Con chim kéo đi, nghĩ rằng: 'Ta sẽ bay lên hư không.'
  • Con chó kéo đi, nghĩ rằng: 'Ta sẽ chạy vào làng.'
  • Con chó rừng kéo đi, nghĩ rằng: 'Ta sẽ lẻn vào bãi tha ma.'
  • Con khỉ kéo đi, nghĩ rằng: 'Ta sẽ nhảy vào rừng sâu.'

Này các Tỷ khưu, khi sáu con vật này đã trở nên mệt mỏi kiệt sức, con vật nào mạnh nhất trong số chúng sẽ buộc các con khác phải thuận theo và chịu sự thống trị của nó.

Cũng vậy, này các Tỷ khưu, đối với vị Tỷ khưu nào mà Thân hành niệm (Kāyagatāsati) không được tu tập, không được thực hành sung mãn, mắt vị ấy sẽ bị lôi kéo bởi những hình sắc vừa lòng, và ghê sợ những hình sắc không vừa lòng… tai… mũi… lưỡi… thân… ý bị lôi kéo bởi những ý niệm vừa lòng, và ghê sợ những ý niệm nghịch ý. Như vậy, này các Tỷ khưu, là sự không phòng hộ (asaṁvaro).

Nhưng ví như, này các Tỷ khưu, người ấy bắt sáu con vật… cột chúng lại bằng dây thừng chắc chắn, rồi buộc chặt chúng vào một cây cột hay một cây cọc kiên cố (daḷhe khīle vā thambhe).

Khi ấy, sáu con vật vẫn kéo về địa bàn kiếm ăn của mình: rắn muốn vào gò mối, cá sấu muốn xuống nước, chim muốn bay lên không, chó muốn vào làng, chó rừng muốn ra bãi tha ma, khỉ muốn về rừng sâu.

Nhưng này các Tỷ khưu, khi sáu con vật ấy đã mệt mỏi kiệt sức, chúng đành phải đứng lại, ngồi xuống hoặc nằm bẹp ngay bên cạnh cây cột hay cây cọc kiên cố ấy.

Cũng vậy, này các Tỷ khưu, đối với vị Tỷ khưu nào mà Thân hành niệm được tu tập, được thực hành sung mãn, mắt vị ấy không bị lôi kéo bởi những hình sắc vừa lòng, và không ghê sợ những hình sắc bất khả ái… tai… mũi… lưỡi… thân… ý không bị lôi kéo bởi những ý niệm vừa lòng, và không ghê sợ những ý niệm nghịch ý. Như vậy, này các Tỷ khưu, là sự phòng hộ (saṁvaro)."

Ý Nghĩa

Sáu con vật chính là sáu căn

Dụ ngôn Sáu Con Vật không nhằm mô tả sáu loại tính cách con người, mà trước hết trình bày một mô hình rất sâu sắc về cấu trúc kinh nghiệm giác quan.

Sáu con vật tượng trưng cho:

1.    Mắt – cakkhu

2.    Tai – sota

3.    Mũi – ghāna

4.    Lưỡi – jivhā

5.    Thân – kāya

6.    Ý – mano

Mỗi căn đều có “môi trường kiếm ăn” riêng. Mắt tìm kiếm sắc. Tai tìm kiếm tiếng. Mũi tìm kiếm mùi.Lưỡi tìm kiếm vị. Thân tìm kiếm xúc chạm. Ý tìm kiếm hình ảnh, ký ức, tư tưởng, khái niệm và những đối tượng tâm thức.

Vấn đề không nằm ở chỗ mắt thấy hay tai nghe. Đó là hoạt động tự nhiên của các căn. Vấn đề phát sinh khi tâm thiếu chánh niệm và để cho mỗi căn kéo toàn bộ đời sống tâm thức chạy theo đối tượng của nó.

Sáu hướng kéo của đời sống tâm thức

Sức mạnh của dụ ngôn nằm ở chỗ Đức Phật không ví sáu căn với sáu vật vô tri, mà với sáu sinh vật đang sống, đang vùng vẫy và có khuynh hướng riêng. Mỗi con đều muốn trở về môi trường thích hợp với bản năng của nó. Điều này phản ánh chính xác hoạt động của tâm thức.

Mắt không bao giờ nói: “Hôm nay tôi đã nhìn đủ rồi.” Tai cũng không nói: “Tôi đã nghe đủ âm thanh.” Ý lại càng khó thỏa mãn hơn. Nó có thể rời một đối tượng để lập tức chạy sang một đối tượng khác: quá khứ, tương lai, yêu, ghét, thành công, thất bại, danh dự, lo âu, hy vọng, tưởng tượng.

Vì vậy, đời sống của người không tu tập thường giống như một người bị sáu con vật kéo sáu hướng. Thân ở một nơi nhưng tâm ở nhiều nơi. Ngồi trong phòng mà tâm có thể đang ở một thành phố khác. Đang nói chuyện với người trước mặt nhưng tâm lại nghĩ về chuyện hôm qua. Đang ăn nhưng mắt nhìn màn hình. Đang nghe pháp nhưng tâm suy nghĩ về một cuộc tranh luận. Đang ngồi thiền nhưng ý đã đi khắp thế giới. Đó chính là Chappāṇa – Sáu Con Vật đang hoạt động.

Con nào mạnh nhất sẽ kéo cả đàn đi

Một chi tiết đặc biệt sâu sắc trong dụ ngôn là: sau khi sáu con vật kéo nhau đến kiệt sức, con nào mạnh nhất vào thời điểm ấy sẽ kéo những con còn lại theo nó.

Đây là hình ảnh cực kỳ chính xác về đời sống tâm lý. Có lúc mắt mạnh nhất. Một sắc đẹp xuất hiện, toàn bộ tâm thức chạy theo sắc ấy. Có lúc tai mạnh nhất. Một lời khen khiến tâm vui cả ngày; một lời xúc phạm khiến tâm đau khổ nhiều ngày. Có lúc lưỡi mạnh nhất. Một món ăn ngon khiến người ta vượt hàng chục cây số chỉ để thưởng thức. Có lúc thân mạnh nhất. Sự dễ chịu của thân khiến người ta tìm mọi cách duy trì khoái cảm; sự đau đớn của thân khiến tâm bị ám ảnh bởi việc thoát khỏi cảm giác khó chịu.

Nhưng thường xuyên nhất, ý căn là con vật chạy xa nhất. Không cần đối tượng hiện diện trước mặt, tâm vẫn có thể tạo ra cả một thế giới. Một chuyện xảy ra mười năm trước có thể được ý mang trở lại như thể vừa xảy ra hôm nay. Một chuyện chưa từng xảy ra cũng có thể khiến con người lo lắng, mất ngủ và đau khổ. Bởi vậy, vấn đề không phải chỉ là thế giới bên ngoài có quá nhiều cám dỗ.

Vấn đề sâu hơn là tâm chưa có một nơi để đứng.

Sáu căn không phải kẻ thù

Điều rất quan trọng cần nhận ra là Đức Phật không dạy hành giả phải hủy diệt sáu căn. Con mắt không có lỗi vì thấy sắc. Lỗ tai không có lỗi vì nghe tiếng. Mũi không có lỗi vì nhận biết mùi. Lưỡi không có lỗi vì biết vị. Thân không có lỗi vì cảm nhận xúc chạm. Ý cũng không có lỗi vì nhận biết các pháp. Vấn đề nằm ở sự thiếu phòng hộ – asaṃvara.

Khi mắt thấy sắc mà tâm lập tức bị sắc khả ái chiếm lĩnh hoặc chống đối sắc bất khả ái, sự trói buộc bắt đầu. Khi tai nghe tiếng mà lập tức sinh yêu ghét, câu chuyện tương tự xảy ra. Do đó, tu tập không phải là biến con người thành một sinh vật không còn cảm giác, mà là thấy nhưng không bị cái thấy kéo đi; nghe nhưng không bị cái nghe bắt giữ; suy nghĩ nhưng không trở thành tù nhân của tư tưởng.

Đó chính là tự do nội tâm.

Từ xúc đến toàn bộ thế giới khổ đau

Dụ ngôn Sáu Con Vật còn có thể được đọc dưới ánh sáng của duyên khởi. Khi căn gặp cảnh và thức tương ứng phát sinh: căn + cảnh + thức → xúc (phassa).  Do xúc duyên thọ. Khi thiếu chánh niệm: thọ duyên ái. Rồi: ái duyên thủ.

Một khoảnh khắc rất nhỏ của kinh nghiệm giác quan vì thế có khả năng phát triển thành cả một chuỗi tâm lý của ham muốn, chiếm hữu, chống đối và khổ đau.

Chúng ta thường chỉ nhận ra vấn đề khi nó đã trở thành ái hoặc thủ.

Đức Phật hướng hành giả trở về quan sát từ những điểm đầu tiên: thấy, nghe, xúc và thọ. Ở đó, tiến trình còn có thể được nhận diện trước khi nó trở thành một cơn lũ.

Cây cọc vững chắc – Thân hành niệm (Kāyagatāsati)

Đây là hình ảnh quan trọng nhất của dụ ngôn. Đức Phật không bảo người tu phải giết sáu con vật. Ngài cũng không bảo phải tìm cách làm cho chúng biến mất. Ngài dạy:

Hãy cột chúng vào một cây cọc vững chắc. Cây cọc ấy chính là: kāyagatāsati – thân hành niệm, niệm đặt nơi thân. Đây là một tư tưởng tu tập rất thực tế.

Khi mắt chạy theo sắc:

trở về thân.

Khi tai bị âm thanh làm dao động:

trở về thân.

Khi tâm nhớ chuyện quá khứ:

trở về thân.

Khi tâm chạy về tương lai:

trở về thân.

Khi tham khởi:

biết thân.

Khi sân khởi:

biết thân.

Khi lo âu xuất hiện:

trở về thực tại đang hiện hữu nơi thân.

Hơi thở đang vào.

Hơi thở đang ra.

Thân đang đứng.

Thân đang đi.

Thân đang ngồi.

Thân đang nằm.

Đó là cây cọc.

Tại sao Đức Phật chọn thân làm cây cọc?

Bởi vì tâm có thể chạy vào quá khứ và tương lai, nhưng thân chỉ hiện hữu ngay tại đây.

Tâm có thể tưởng tượng Paris trong một giây, Bangkok trong giây kế tiếp, rồi trở về một chuyện xảy ra ba mươi năm trước.

Nhưng hơi thở hiện tại không ở ba mươi năm trước.

Bước chân hiện tại không ở ngày mai.

Cảm giác đang xuất hiện trong thân không nằm trong trí tưởng tượng.

Bởi vậy, thân trở thành điểm neo của hiện tại.

Thân hành niệm không phải là sự tôn thờ thân thể. Trái lại, quan sát thân đúng pháp còn làm sáng tỏ bản chất vô thường, bất toại nguyện và vô ngã của thân.

Nhưng trên bình diện thực hành, thân là nơi rất hữu hiệu để tâm ngừng chạy và bắt đầu thấy.


Từ chế ngự đến tự do

Ban đầu, sáu con vật bị cột vào cọc vẫn vùng vẫy. Điều này rất quan trọng. Tu tập chánh niệm không có nghĩa rằng vừa ngồi xuống là tâm lập tức an tịnh. Mắt vẫn muốn nhìn. Tai vẫn muốn nghe. Ý vẫn muốn suy nghĩ. Ký ức vẫn xuất hiện. Ham muốn vẫn phát sinh. Bực bội vẫn có mặt.

Sáu con vật vẫn kéo dây.

Người mới hành thiền thường thất vọng ở chính điểm này và nghĩ: “Tâm tôi quá loạn nên tôi không thể hành thiền.” Nhưng dụ ngôn cho thấy điều ngược lại.

Việc nhận ra sáu con vật đang kéo chính là bắt đầu thấy tâm.

Không cần đánh nhau với chúng.

Không cần ghét bỏ chúng.

Không cần tuyệt vọng.

Chỉ cần cây cọc đừng bật gốc.

Hành giả tiếp tục trở về với thân, hơi thở, tư thế và cảm giác đang hiện hữu. Dần dần sức kéo yếu xuống. Không phải vì sáu căn đã chết, mà vì quyền lực thống trị của chúng đối với tâm đã suy giảm.

Phòng hộ căn không phải đàn áp giác quan

Một ngộ nhận thường gặp là cho rằng indriyasaṃvara – phòng hộ các căn có nghĩa là không nhìn, không nghe, tránh mọi tiếp xúc với thế giới. Đó chưa phải ý nghĩa sâu xa. Sự phòng hộ chân chính xảy ra ngay trong kinh nghiệm: thấy chỉ biết là thấy, nghe chỉ biết là nghe, mà không để tham, sân và si lập tức chiếm lĩnh tâm.

Một đóa hoa đẹp không cần phải biến mất để tâm được tự do. Một âm thanh khó chịu không cần phải chấm dứt để tâm có bình an. Tự do thật sự xuất hiện khi đối tượng vẫn hiện hữu nhưng tâm không còn bắt buộc phải chạy theo hoặc chạy trốn nó.

Đây là sự chuyển hóa từ phản ứng sang tỉnh giác.

Tự do không phải muốn gì làm nấy

Dụ ngôn Sáu Con Vật cũng đặt lại vấn đề về khái niệm “tự do”. Con người hiện đại thường hiểu tự do là:

Tôi muốn nhìn gì thì nhìn.

Muốn nghe gì thì nghe.

Muốn ăn gì thì ăn.

Muốn nói gì thì nói.

Muốn hưởng thụ gì thì hưởng thụ.

Nhưng dưới ánh sáng của dụ ngôn này, một câu hỏi sâu hơn phải được đặt ra:

Ai đang làm chủ ai?

Nếu thấy một vật hấp dẫn mà nhất định phải có nó, đó có thật là tự do không?

Nếu nghe một lời xúc phạm mà nhất định phải nổi giận, đó có thật là tự do không?

Nếu điện thoại phát một tín hiệu mà lập tức phải mở xem, đó có thật là tự do không?

Nếu một ý nghĩ xuất hiện và tâm phải chạy theo nó hàng giờ, đó có thật là tự do không?

Theo Phật pháp, khả năng thỏa mãn mọi ham muốn chưa phải tự do; khả năng không bị ham muốn sai khiến mới gần với tự do hơn.

Sáu con vật được phép chạy không có nghĩa là người chủ được tự do.

Có khi chính người chủ đang bị chúng kéo lê trên mặt đất.

Dụ ngôn Sáu Con Vật trong thời đại kỹ thuật số

Nếu Đức Phật dùng hình ảnh sáu con vật để nói về sáu căn cách đây hơn hai thiên niên kỷ, thì hình ảnh ấy càng trở nên đáng suy ngẫm trong thời đại kỹ thuật số.

Ngày nay chưa bao giờ con mắt được cung cấp nhiều sắc như vậy.

Chưa bao giờ lỗ tai được cung cấp nhiều âm thanh như vậy.

Và đặc biệt, chưa bao giờ ý thức bị kích thích bởi nhiều thông tin như vậy.

Điện thoại thông minh có thể trở thành một “cánh rừng sáu căn” thu nhỏ.

Hình ảnh kích thích mắt.

Video kích thích mắt và tai.

Quảng cáo kích thích dục.

Tin tức kích thích lo âu.

Tranh luận kích thích sân.

Mạng xã hội kích thích so sánh.

Thông báo kích thích sự chờ đợi.

Các thuật toán liên tục tìm hiểu điều gì khiến người dùng thích, ghét, tò mò hoặc phẫn nộ để giữ sự chú ý lâu hơn.

Vì vậy, dụ ngôn Sáu Con Vật không phải một câu chuyện cổ xưa.

Nó đang diễn ra ngay trên màn hình trước mặt chúng ta.

Nghệ thuật “cột sáu con vật vào cọc”

Ứng dụng lời Phật dạy không nhất thiết bắt đầu bằng điều gì huyền bí.

Khi đang đi:

biết mình đang đi.

Khi đang ngồi:

biết mình đang ngồi.

Khi ăn:

biết mình đang ăn.

Khi thở:

biết hơi thở.

Khi mắt thấy một hình ảnh hấp dẫn và tham muốn khởi lên:

biết tham đang có mặt.

Khi nghe một lời khó chịu và thân bắt đầu căng:

nhận biết cảm giác ấy.

Khi tâm muốn lập tức phản ứng:

chưa cần chạy theo nó.

Trở về thân.

Đó chính là một lần cột dây vào cọc.

Mỗi lần chánh niệm trở về, cây cọc được đóng sâu thêm một chút.

Từ cây cọc của niệm đến nền tảng của tuệ

Tuy nhiên, mục đích cuối cùng không phải giữ sáu con vật quanh cây cọc mãi mãi. Chánh niệm tạo điều kiện để hành giả quan sát trực tiếp:

Sắc sinh rồi diệt.

Âm thanh sinh rồi diệt.

Cảm giác sinh rồi diệt.

Ý nghĩ sinh rồi diệt.

Thích sinh rồi diệt.

Ghét sinh rồi diệt.

Ngay cả cái cảm giác “tôi đang thấy”, “tôi đang nghe”, “tôi đang đau khổ” cũng có thể được khảo sát như một tiến trình duyên sinh.

Từ đó, cây cọc kāyagatāsati không chỉ giúp tâm định tĩnh mà còn mở đường cho paññā – trí tuệ.

Hành giả dần nhận ra:

Không phải “tôi” đang bị sáu thế giới tấn công; chỉ có căn, cảnh, thức, xúc, thọ và những pháp duyên sinh đang vận hành.

Ở đây, chánh niệm bắt đầu chuyển thành tuệ quán.

Sáu con vật và sáu thế giới

Mỗi căn gần như tạo ra một thế giới riêng.

Không có mắt, thế giới màu sắc không xuất hiện theo cách chúng ta biết.

Không có tai, thế giới âm thanh không xuất hiện.

Không có ý, thế giới khái niệm, ký ức và tưởng tượng không xuất hiện theo cùng cách ấy.

Do đó, “thế giới” mà chúng ta đau khổ vì nó không chỉ là một thực tại nằm ngoài con người.

Một phần rất lớn của “thế giới của tôi” được hình thành ngay tại nơi:

căn tiếp xúc với cảnh.

Hiểu được điều này, hành giả không còn chỉ tìm cách sửa chữa toàn bộ thế giới bên ngoài để có bình an.

Người ấy quay về quan sát cơ chế tạo ra thế giới kinh nghiệm ngay nơi sáu căn.

Đây là cuộc cách mạng hướng nội của Phật pháp.

Từ Sáu Con Vật đến một tâm không bị kéo đi

Dụ ngôn Sáu Con Vật vì vậy không phải lời kêu gọi trốn khỏi thế giới giác quan.

Nó là lời dạy về nghệ thuật sống giữa thế giới mà không bị thế giới kéo đi.

Mắt vẫn thấy.

Tai vẫn nghe.

Mũi vẫn ngửi.

Lưỡi vẫn nếm.

Thân vẫn xúc chạm.

Ý vẫn nhận biết.

Nhưng giữa căn và cảnh đã xuất hiện một sức mạnh mới: SATI – CHÁNH NIỆM.

Khi chánh niệm đủ mạnh, sắc không còn dễ dàng kéo tâm.

Âm thanh không còn dễ dàng điều khiển tâm.

Cảm giác không còn có quyền tuyệt đối ra lệnh cho tâm.

Ý nghĩ cũng không còn được mặc nhiên xem là sự thật.

Đó là lúc hành giả bắt đầu hiểu một hình thức tự do hoàn toàn khác với tự do thỏa mãn dục vọng:

tự do không bị sáu căn sai khiến.

Dụ ngôn Sáu Con Vật là một bản đồ thu nhỏ về cuộc chiến âm thầm diễn ra trong đời sống mỗi người. Chúng ta không nhất thiết bị xiềng xích bằng dây sắt; đôi khi những sợi dây mạnh nhất lại là một hình ảnh đẹp, một âm thanh quyến rũ, một vị ngon, một cảm giác dễ chịu, một lời xúc phạm hay chỉ một ý nghĩ không chịu rời khỏi tâm.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

 

-ooOoo-