BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 17, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Quần Tiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.31
BÀI 031. THÂN CẬN HIỀN NHÂN -

Kinh Bậc Thiện Trí (Sabbhisutta) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-031.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngSáu vị thiên, mỗi vị nói một lợi ích của việc thân cận bậc thiện: trở nên tốt hơn chứ không xấu hơn; có tuệ, không từ chỗ khác; không sầu giữa sầu muộn; sáng chói giữa thân quyến; chúng sanh đi đến cảnh giới an lành; chúng sanh an trú trong lạc. Tất cả đều đúng “theo một khía cạnh” (pariyāyena). Đức Thế Tôn không bác bỏ các vị ấy, nhưng đưa câu kệ về chỗ tận cùng: biết Chánh pháp của bậc thiện thì giải thoát khỏi tất cả khổ. Như vậy thân cận không phải là mục đích cuối. Thân cận là cửa. Qua cửa ấy người ta nghe pháp, hiểu pháp, sống theo pháp. Lợi ích thế gian (tốt hơn, sáng giữa thân tộc, sanh thiên, an lạc) là những tầng thấp; tuệ và hết sầu là tầng giữa; thoát khỏi mọi khổ là cứu cánh. Cùng một việc “gần người lành”, kết quả khác nhau tùy mức độ người ấy thật sự “biết” (aññāya) Chánh pháp.

Kinh văn

31. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi —

Sabbhireva samāsetha,
sabbhi kubbetha santhavaṃ.
Sataṃ saddhammamaññāya,
seyyo hoti na pāpiyo.

Sabbhireva samāsetha,
sabbhi kubbetha santhavaṃ.
Sataṃ saddhammamaññāya,
paññā labbhati nāññato.

Sabbhireva samāsetha,
sabbhi kubbetha santhavaṃ.
Sataṃ saddhammamaññāya,
sokamajjhe na socati.

Sabbhireva samāsetha,
sabbhi kubbetha santhavaṃ.
Sataṃ saddhammamaññāya,
ñātimajjhe virocati.

Sabbhireva samāsetha,
sabbhi kubbetha santhavaṃ.
Sataṃ saddhammamaññāya,
sattā gacchanti suggatiṃ.

Sabbhireva samāsetha,
sabbhi kubbetha santhavaṃ.
Sataṃ saddhammamaññāya,
sattā tiṭṭhanti sātataṃ.

Sabbhireva samāsetha,
sabbhi kubbetha santhavaṃ.
Sataṃ saddhammamaññāya,
sabbadukkhā pamuccati.

Tôi được nghe như vầy:

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ờ Sāvatthī, tại Kỳ Viên Jetavana, ngôi già lam do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng.

Khi đêm đã về khuya, nhiều vị thiên thuộc nhóm Satullapakāyikā, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng  toàn bộ Kỳ Viên Jetavana, đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi đến, các vị đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên.

Một vị thiên đứng một bên đọc bài kệ:

Hãy kết giao người trí
Hãy thân cận người thiện,
Hãy học pháp bậc hiền

Chỉ tốt, chứ không xấu.

Một vị thiên khác nói:

Hãy kết giao người trí
Hãy thân cận người thiện,
Hãy học pháp bậc hiền
Trí tuệ sanh, chẳng khác

Một vị thiên khác nói:

Hãy kết giao người trí
Hãy thân cận người thiện,
Hãy học pháp bậc hiền
Không sầu giữa sầu muộn

Một vị thiên khác nói:

Hãy kết giao người trí
Hãy thân cận người thiện,
Hãy học pháp bậc hiền
Chói sáng giữa thân bằng

Một vị thiên khác nói:

Hãy kết giao người trí
Hãy thân cận người thiện,
Hãy học pháp bậc hiền
Được sanh cõi an lạc

Một vị thiên khác nói:

Hãy kết giao người trí
Hãy thân cận người thiện,
Hãy học pháp bậc hiền
Chúng sanh sống an lạc.

Rồi một vị thiên bạch Đức Thế Tôn:

— Bạch Đức Thế Tôn, lời của ai được xem là khéo nói?

Đức Thế Tôn đáp:

— Lời của tất cả các vị, xét theo từng phương diện, đều là khéo nói. Nhưng hãy nghe lời của Ta:

Hãy kết giao người trí
Hãy thân cận người thiện,
Hãy học pháp bậc hiền
Giải thoát tất cả khổ.

Sau khi Đức Thế Tôn nói như vậy, các vị thiên hoan hỷ, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo hướng bên phải rồi biến mất ngay tại đó.

Chú thích

Satullapakāyikā — quần tiên Satullapa. Sớ giải kể nhân duyên: họ vốn là thủy thủ trên biển; khi tàu sắp chìm, một người bình tĩnh nhờ đã bố thí và thọ tam quy ngũ giới trước khi xuống tàu; người ấy chia bảy trăm người thành từng nhóm một trăm, hô to năm giới cho họ thọ trì. Họ chết rồi sanh lên cõi Tam thập tam thiên, mỗi nhóm có cung điện riêng, vị thầy có kim lâu trăm do-tuần ở giữa. Tên Satullapa được giải là sataṃ dhammaṃ … ullapetvā: vì đã “hô lên” pháp (giới) theo từng trăm người rồi sanh thiên. Họ đến Thế Tôn giữa đêm để tán thán vị thầy ấy, nên mỗi vị nói một kệ.

Sabbhi — dạng số nhiều bất quy tắc (sử dụng cách) của santa: những người lành, bậc thiện, bậc hiền trí, sappurisa. Sớ giải chú thích là paṇḍitehi, sappurisehi eva: chỉ với các bậc trí, các bậc chân nhân mà thôi. Chữ eva nhấn mạnh sự loại trừ: không phải “cũng gần người lành”, mà “chỉ gần người lành”.

Samāsetha — hãy cùng sống, cùng ngồi, cùng ở. Sớ giải nói đây chỉ là “đầu đề của lời dạy” (desanāsīsa): không chỉ ngồi chung mà cùng làm mọi oai nghi (sabbairiyāpathe) với bậc thiện.

Kubbetha santhavaṃ — hãy tạo sự thân thiết, kết giao, mật thiết. Santhava không phải xã giao bề ngoài mà là sự gần gũi có thể học hỏi, bắt chước, được uốn nắn.

Sataṃ saddhammamaññāya — sau khi biết, nhận ra, thấu hiểu Chánh pháp của các bậc thiện (santa). Sataṃ ở đây đồng gốc với sabbhi/santa. Điểm then chốt không phải chỉ “gặp” người lành mà “lãnh hội pháp” của họ.

Seyyo hoti na pāpiyo — trở nên tốt hơn, không trở nên xấu hơn. Đây là lợi ích đạo đức căn bản nhất của bạn lành: môi trường nâng người ta lên chứ không kéo xuống.

Paññā labbhati nāññato — tuệ được có được, không từ chỗ khác. Bạn ác, sách phù phiếm, lý luận suông không sinh tuệ xuất thế; tuệ sanh từ sự thân cận đúng người và điều được nghe đúng pháp.

Sokamajjhe na socati — giữa đám người sầu vẫn không sầu muộn. Không phải thế gian hết khổ, mà tâm đã có pháp nên không bị cuốn theo khổ của người xung quanh.

Ñātimajjhe virocati — sáng chói giữa thân bằng quyến thuộc. Không phải khoe khoang, mà giới hạnh và trí tuệ làm người ấy nổi bật giữa thân tộc.

Sattā gacchanti suggatiṃ — chúng sanh đi đến thiện thú hay cảnh giới an lạc. Đây là quả dị thục của giới và pháp được học từ bậc thiện.

Sattā tiṭṭhanti sātataṃ — chúng sanh an trú bền vững trong an lạc (sāta). Không chỉ sanh thiên một lần, mà trụ được trong sự an lạc ấy.

Sabbadukkhā pamuccati — được giải thoát khỏi tất cả khổ. Đức Phật nâng cùng một câu kệ từ lợi ích thế gian và thiền giới lên quả cứu cánh: đoạn tận khổ.

Pariyāyena — theo một phương diện, theo một lối nói. Đức Phật xác nhận mọi kệ đều khéo nói theo khía cạnh riêng, rồi bổ sung khía cạnh cứu cánh.

Bài kinh dựng một thang lợi ích từ thấp lên cao trên cùng một nền: thân cận bậc thiện và biết Chánh pháp của họ.

– Tốt hơn, không xấu hơn: nhân cách chỉ tốt chứ không xấu.
– Trí tuệ sanh, không từ chỗ khác: mở cửa trí.
– Không sầu giữa chỗ sầu: ổn định tâm tư.
– Sáng chói giữa quyến thuộc.
– Sanh thiện thú, trụ trong lạc.
– Giải thoát tất cả khổ: cứu cánh.

Đức Phật không phủ nhận năm tầng trước. Ngài chỉ nói: nếu dừng ở đó thì vẫn còn trong vòng sanh tử. Cùng một bạn lành, cùng một pháp, người chỉ học để sống tốt hơn vẫn còn khổ; người học đến đoạn tận ái mới “pamuccati”.

Do đó câu hỏi của bài kinh không phải “có nên gần người tốt không?” — điều ấy các vị thiên đã đồng ý — mà là: gần rồi, ta có thật sự biết Chánh pháp đến mức hết khổ hay chỉ lấy đủ để đời này dễ chịu hơn?

Sớ giải

31.Satullapakāyikavaggassa paṭhame satullapakāyikā ti sataṃ dhammaṃ samādānavasena ullapetvā sagge nibbattāti satullapakāyikā. Tatridaṃ vatthu – sambahulā kira samuddavāṇijā nāvāya samuddaṃ pakkhandiṃsu… nāvāya nimujjamānāya… eko puriso… attano parisuddhāni saraṇāni ceva sīlāni ca disvā yogī viya pallaṅkaṃ ābhujitvā nisīdi… so te satasataghaṭāvasena pañcasīlāni gāhāpetvā ullapesi… Te nibbattakkhaṇeyeva… ācariyassa vaṇṇabhaṇanatthaṃ ekekaṃ gāthaṃ abhāsiṃsu.
Tattha sabbhirevā ti paṇḍitehi, sappurisehi eva. R-kāro padasandhikaro. Samāsethā ti saha nisīdeyya. Desanāsīsameva cetaṃ, sabbairiyāpathe sabbhireva saha kubbeyyāti attho.

Trong bài kinh thứ nhất của phẩm Quần tiên Satullapa: Gọi là Satullapakāyikā vì họ đã hô lên pháp (giới) theo cách thọ trì, từng nhóm một trăm người, rồi sanh lên cõi trời. Nhân duyên: nhiều thương nhân vượt biển. Ngày thứ bảy giữa biển nổi sóng lớn, tàu sắp chìm. Mọi người kêu cầu thiên thần của mình. Ở giữa có một người quán lại quy giới trong sạch của mình, ngồi kiết già như vị hành giả. Hỏi ra, ông nói ngày lên tàu đã cúng dường chúng Tăng và thọ quy giới nên không sợ. Ông chia họ thành từng nhóm một trăm, hô năm giới cho họ thọ. Nhờ giới được thọ gần lúc chết, họ sanh thiên, vị thầy có kim lâu trăm do-tuần ở giữa. Vừa sanh họ nhớ nghiệp, đến Thế Tôn giữa canh giữa để nói lời tán thán thầy, mỗi vị một kệ.

Sabbhireva — chỉ với các bậc trí, các bậc chân nhân. Chữ r là âm nối.
Samāsetha — hãy cùng ngồi. Đây chỉ là đầu đề lời dạy: nghĩa là trong mọi oai nghi đều hãy cùng làm với bậc thiện.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

IV. Phẩm Quần Tiên

31.   Với Người Thiện

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Đứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Được tốt hơn, không xấu.

Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Được tuệ, không gì khác.

Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giữa sầu không sầu muộn.

Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giữa bà con được sáng.

Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.

Rồi một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh thường hưởng lạc.

Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, ai đã nói lên một cách tốt đẹp?

— Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy, hãy nghe lời Ta nói:

Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Quần tiên ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01