BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 19, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Quần Tiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.32
BÀI 032. GIÁ TRỊ CỦA VÔ UÝ THÍ -

Kinh Xan Tham (Macchari Sutta) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-032.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngNgười đời thường nghĩ bố thí lớn thì công đức lớn, bố thí nhỏ thì công đức nhỏ. Cũng thường nghĩ rằng giữ lại cho chắc thì mình sẽ không thiếu. Bài kinh này đảo ngược cả hai điều ấy.

Xan tham không bảo vệ được tài sản. Nó chỉ làm cho cái người ta sợ nhất — đói, khát, thiếu thốn — trở thành quả báo ngay trong đời này và đời sau. Phóng dật thì còn tệ hơn: tâm quá bận chơi, hưởng, lo việc riêng, đến mức ý nghĩ “nên cho” còn không kịp khởi.

Ngược lại, sự cho không được đo bằng số lượng. Có người ít mà vui san sẻ, như khách đồng hành trên đường chia phần lương khô. Có người nhiều mà không muốn đưa tay. Chú giải nói rõ: của người không biết cho và của người đã chết, về mặt thọ dụng, gần như giống nhau — cả hai đều không đứng dậy phân chia cho ai.

Đức Phật không phủ nhận các lời nói đúng của chư thiên. Ngài chỉ đẩy vấn đề vào chỗ quyết định: phẩm chất của tâm và nguồn gốc của vật thí. Một người sống ngay pháp, dù chỉ lượm thóc rơi ngoài sân đập lúa, dù còn phải nuôi vợ con, nếu biết san sẻ từ chỗ ít ỏi, thì trăm ngàn lễ tế lớn của những người sát hại, bức bách rồi mới đem cho — lễ tế đầy nước mắt và roi vọt — không bằng được một phần nhỏ của thí ấy.

Vấn đề vì vậy không phải “cho bao nhiêu”, mà là: cho từ đâu, cho bằng tâm nào, và vật ấy được có bằng cách nào.

Kinh văn

Ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā Satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ Jetavanaṃ obhāsetvā yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu.

“Maccherā ca pamādā ca,
evaṃ dānaṃ na dīyati;
Puññaṃ ākaṅkhamānena,
deyyaṃ hoti vijānatā.”

“Yasseva bhīto na dadāti maccharī,
tadevādadato bhayaṃ;
Jighacchā ca pipāsā ca,
yassa bhāyati maccharī;
Tameva bālaṃ phusati,
asmiṃ loke paramhi ca.

Tasmā vineyya maccheraṃ,
dajjā dānaṃ malābhibhū;
Puññāni paralokasmiṃ,
patiṭṭhā honti pāṇinaṃ.”

“Te matesu na mīyanti,
panthānaṃva sahabbajaṃ;
Appasmiṃ ye pavecchanti,
esa dhammo sanantano.

Appasmeke pavecchanti,
bahuneke na dicchare;
Appasmā dakkhiṇā dinnā,
sahassena samaṃ mitā.”

“Duddadaṃ dadamānānaṃ,
dukkaraṃ kamma kubbataṃ;
Asanto nānukubbanti,
sataṃ dhammo duranvayo.

Tasmā satañca asataṃ,
nānā hoti ito gati;
Asanto nirayaṃ yanti,
santo saggaparāyanā.”

“Dhammaṃ care yopi samuñjakaṃ care,
dārañca posaṃ dadamappakasmiṃ;
Sataṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ,
kalampi nāgghanti tathāvidhassa te.”

“Kenesa yañño vipulo mahaggato,
samena dinnassa na agghameti;
Kathaṃ sataṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ,
kalampi nāgghanti tathāvidhassa te?”

“Dadanti heke visame niviṭṭhā,
chetvā vadhitvā atha socayitvā;
Sā dakkhiṇā assumukhā sadaṇḍā,
samena dinnassa na agghameti.

Evaṃ sataṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ,
kalampi nāgghanti tathāvidhassa te.”

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ờ Sāvatthī, tại tịnh xá Jetavana, ngôi già lam do ông  Anāthapiṇḍika dâng cúng.

Khi đêm đã về khuya, nhiều vị thiên thuộc nhóm Satullapakāyika, với dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn khu rừng Jetavana, đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi đến, các vị đảnh lễ Ngài rồi đứng sang một bên.

[Vị thiên thứ nhất:]
Vì bỏn xẻn, phóng túng,
Người ta không bố thí;
Người trí muốn phước lành,
Chắc chắn luôn san sẻ.

[Vị thiên thứ hai:]
Sợ mất nên keo kiết
Không xả tài bố thí;
Nhưng chính điều người sợ
Xảy đến vì xan tham.

Đói kém chính là điều
Kẻ bỏn sẻn lo sợ;
Nhưng lại theo kẻ ngu
Đời này và đời sau.

Vậy hãy dứt xan tham,
Bố thí thắng uế nhiễm;
Phước báu là chỗ nương
Cho chúng sanh đời sau.

[Vị thiên thứ ba:]
Giữa đám người như chết,
Họ không phải kẻ chết:
Như bạn đường san sẻ
Dù lương thực còn ít.
Ấy đạo lý ngàn xưa.

Người có ít vẫn cho,
Kẻ có nhiều chẳng thí.
Chia sẻ dù có ít
Được đong đo muôn phần.

[Vị thiên thứ tư:]

Kẻ xấu khó học tốt
Biết cho cái khó cho
Biết làm điều khó làm
Hành pháp khó thực hành

Nên người hiền, kẻ ác
Sanh thú phải khác đường:
Kẻ ác vào khổ cành,
Người hiền hướng thiên giới.

Sau khi các vị thiên trình bày, một vị hỏi Đức Thế Tôn lời của ai là hay nhất.

Đức Phật nói rằng tất cả đều đã nói đúng theo một phương diện, rồi Ngài dạy:

[Đức Thế Tôn:]
Người sống đúng Chánh pháp,
Dù sống bằng thóc vụn,
Dù còn nuôi vợ con,
Vẫn cho dù có ít
Trăm ngàn kẻ tế lễ
Cúng tế gấp ngàn lần,
Không bằng một phần nhỏ
Của người thí như vậy.

[Vị thiên hỏi lại:]
Vì sao tế lễ lớn,
Rộng rãi, đồ sộ thế,
Không thể sánh thí nhỏ?
Vì sao muôn tế tự
Không bằng một phần nhỏ
Của người thí như vậy?

[Đức Thế Tôn đáp:]
Có kẻ cho bất chính,
Chém giết rồi gây sầu.
Thí ấy mặt đẫm lệ,
Kèm roi vọt bức bách,
Không sánh thí bất hại.
Dù trăm ngàn tế đàn
Những hiến tế trọng thể
Không bằng một phần nhỏ
Của người thí (vô hại).

Chú thích

Macchera / macchariya — xan tham, keo kiệt, bủn xỉn. Sớ giải định nghĩa bằng attasampattinigūhanalakkhaṇa: sự trạng giấu kín sự đầy đủ của mình, không muốn người khác được chia phần. Không phải chỉ là “không thích cho”, mà là tâm co lại quanh chấp thủ “của tôi”.

Pamāda — phóng túng, thất niệm, không cố gắng tu dưỡng bản thân. Sớ giải: sativippavāsalakkhaṇa, trạng thái chánh niệm bị buông bỏ tức không nhìn lại thân tâm. Ở đây không phải phóng dật theo nghĩa phá giới thô, mà là tâm mải mê vui chơi, hưởng thụ đến mức ý nghĩ bố thí còn không khởi. Hai nhân “không cho” vì vậy khác nhau: một bên sợ mất nên nắm chặt; một bên quá đãng trí nên quên mất việc phải cho.

Dānaṃ na dīyati — bố thí không được thực hiện tức là không biết cho. Sớ giải nhấn mạnh dāna vốn là pháp đem lại danh vọng, sự giàu có, thành tựu và an lạc; vậy mà vẫn không được thực hiện.

Puññaṃ ākaṅkhamānena — người ước muốn phước lành. Sớ giải chú thích gồm cả pubbacetanā: tâm tư hướng đến phước sự trước khi cho, trong khi cho và sau khi cho.

Vijānatā — người hiểu biết. Biết gì? Atthi dānassa phalaṃ: biết bố thí có quả.

Yasseva bhīto na dadāti — điều mà kẻ keo kiết sợ nên không cho, chính là điều xảy đến cho chính họ. Đây là nghịch lý trung tâm của bài kinh. Người keo sợ đói kém nên giữ lại; giữ lại rồi chính đói kém ấy theo sát họ đời này và đời sau.

Malābhibhū — người chiến thắng cấu uế. Macchera được gọi là mala, cáu bẩn của tâm. Cho không chỉ là cử chỉ tay, mà là sự đè bẹp vết bẩn ấy.

Te matesu na mīyanti — họ không chết giữa những kẻ đã chết. Sớ giải chú thích nhấn mạnh: người không có hào sản, đối với của cải, giống như người chết. Người chết dù đồ ăn thức uống để đầy quanh xác cũng không đứng dậy phân chia cho ai; kẻ keo kiết cũng vậy. Của hai hạng ấy “samasamā” — ngang nhau về mặt thọ dụng chân thật. Người biết cho mới là người còn sống giữa đám người như đã chết.

Panthānaṃva sahabbajaṃ — như những người cùng đi đường. Hình ảnh khách lữ hành qua sa mạc, lương khô ít ỏi vẫn chia nhau. Chú giải mở rộng: chúng sanh cùng đi trên con đường sanh tử vô thỉ (anamattaggaṃ saṃsārakantāraṃ); ai còn biết chia từ chỗ ít, ấy mới là bạn đường thật.

Esa dhammo sanantano — đây là pháp cổ xưa, pháp của các bậc trí ngày trước. Bố thí không phải phát minh mới; đó là nguyên tắc sống đã có từ lâu.

Appasmā dakkhiṇā dinnā, sahassena samaṃ mitā — thí từ chỗ ít được đong đo gấp ngàn lần. Không phải mọi thí nhỏ đều lớn hơn thí lớn, mà thí từ chỗ thiếu, với tâm vui chia, có sức nặng đặc biệt.

Duddadaṃ / dukkaraṃ — cho cái khó cho, làm việc khó làm. Pháp của người lành khó theo vì nó đòi hỏi đi ngược dòng quan niệm thế gian.

Samuñjakaṃ care — sống bằng cách lượm nhặt. Chú giải: khalamaṇḍalādisodhanapalālabhotena: sống nhờ thóc lép, rơm rạ, hạt rơi khi quét sân đập lúa. Hình ảnh người nghèo cùng cực, không có ruộng kho.

Dārañca posaṃ — vừa nuôi vợ con. Đức Phật không nói chỉ bậc xuất gia mới thí được. Người tại gia nghèo, còn trách nhiệm gia đình, nếu vẫn chia từ chỗ ít, thí ấy đã đủ để làm chuẩn mực.

Sahassayāgin — người làm cả ngàn tế đàn, hoặc cúng dường nghìn vị tỷ-khưu, hoặc thí bằng nghìn kahāpaṇa. Chú giải còn đẩy lên mức mười koṭi tỷ-khưu hay mười koṭi kahāpaṇa. Dù lớn đến thế, nếu đối chiếu với thí thanh tịnh của người nghèo sống đúng pháp, vẫn “kalampi nāgghanti” — không bằng một phần nhỏ.

Kala — một phần. Chú giải: có thể là 1/16, 1/100, 1/1000; ở đây lấy nghĩa 1/100. Nghĩa là đem thí của người nghèo chia làm trăm phần, toàn bộ đại thí kia không bằng được một phần.

Visame niviṭṭhā — an trú trong sở hành bất chính nơi thân, khẩu, ý.

Chetvā vadhitvā socayitvā — đánh đập, giết hại, làm người khác sầu khổ rồi mới lấy của ấy mà cho. Tế tự thiếu lòng từ bi. Một điều rất thường xẩy ra khi tổ chức đại tế đàn.

Assumukhā sadaṇḍā — thí mặt đẫm lệ và thí kèm hình phạt. Chú giải: assumukha là thí làm người khác phải khóc; sadaṇḍā là thí do doạ nạt, đánh đập, cưỡng bức mà có. Đại thí từ nguồn bất chính không trở thành đại quả chỉ vì nó lớn.

Bài kinh chứa đựng hai phần:

Phần một, nhận thứccủa chư thiên:
Không cho vì sợ mất → đúng cái sợ ấy đến.
Người ít biết cho sống hơn kẻ nhiều mà chết cứng trong xan tham.
Người lành và kẻ ác đi hai nẻo.

Phần hai, lời dạy của Đức Phật:
Đừng chỉ hỏi “có cho hay không”, hãy hỏi “cho từ tâm nào, bằng của nào”.
Thí nhỏ từ đời sống chánh trực nặng hơn tế lớn từ bạo lực.
Công đức không phải phép cộng số lượng. Nó là phẩm chất của nguồn và của tâm.

Câu hỏi của bài kinh do vậy không phải: “Làm sao có nhiều để cho?” mà là: “Cái đang có trong tay, dù ít, đã được mình buông ra bằng tâm trong sạch chưa? Và cái ấy có được bằng sự tổn hại người khác không?”

Sớ giải

32. Dutiye. Maccherā ca pamādā cā ti attasampattinigūhanalakkhaṇena maccherena ceva sativippavāsalakkhaṇena pamādena ca. Ekacco hi “idaṃ me dentassa parikkhayaṃ gamissati, mayhaṃ vā gharamānusakānaṃ vā na bhavissatī” ti macchariyena dānaṃ na deti. Ekacco khiḍḍādipasutattā “dānaṃ dātabban” ti cittampi na uppādeti. Evaṃ dānaṃ na dīyatī ti evametaṃ yasadāyakaṃ sirīdāyakaṃ sampattidāyakaṃ sukhadāyakaṃ dānaṃ nāma na dīyatī ti ādinā kāraṇaṃ kathesi. Puññaṃ ākaṅkhamānenā ti pubbacetanādibhedaṃ puññaṃ icchamānena.
Deyyaṃ hoti vijānatā ti atthi dānassa phalan ti jānantena dātabbamevā ti vadati. Tameva bālaṃ phusatī ti taṃyeva bālaṃ idhalokaparalokesu jighacchā ca pipāsā ca phusati anubandhati na vijahati. Tasmā ti yasmā tameva phusati, tasmā. Vineyya maccheran ti maccheramalaṃ vinetvā. Dajjā dānaṃ malābhibhū ti malābhibhū hutvā taṃ maccheramalaṃ abhibhavitvā dānaṃ dadeyya. Te matesu na mīyantī ti adānasīlatāya maraṇena matesu na mīyanti.
Yathā hi mato samparivāretvā ṭhapite bahumhipi annapānādimhi “idaṃ imassa hotu, idaṃ imassā” ti uṭṭhahitvā saṃvibhāgaṃ na karoti, evam adānasīlopī ti matakassa ca adānasīlassa ca bhogā samasamā nāma honti. Tena dānasīlā evarūpesu matesu na mīyantī ti attho. Panthānaṃva saha vajaṃ, appasmiṃ ye pavecchantī ti yathā addhānaṃ kantāramaggaṃ saha vajantā pathikā saha vajantānaṃ pathikānaṃ appasmiṃ pātheyyе saṃvibhāgaṃ katvā pavecchanti dadantiyeva, evamevaṃ ye pana anamataggaṃ saṃsārakantāraṃ saha vajantā saha vajantānaṃ appasmimpi deyyadhamme saṃvibhāgaṃ katvā dadantiyeva, te matesu na mīyanti. Esa dhammo sanantano ti esa porāṇako dhammo, sanantanānaṃ vā paṇḍitānaṃ esa dhammo ti. Appasmeke ti appasmiṃ deyyadhamme eke. Pavecchantī ti dadanti. Bahuneke na dicchare ti bahunāpi bhogena samannāgatā ekacce na dadanti. Sahassena samaṃ mitā ti sahassena saddhiṃ mitā, sahassadānasadisā hoti. Duranvayo ti duranugamano, duppūro ti attho. Dhammaṃ care ti dasakusalakammapathadhammaṃ carati. Yopi samuñjakaṃ care ti yo api khalamaṇḍalādisodhanapalālabhotenādivasena samuñjakaṃ carati.
Dārañca posan ti dārañca posento. Dadamappakasmin ti appakasmiṃ paṇṇasākamattasmimpi saṃvibhāgaṃ katvā dadantova so dhammaṃ carati. Sataṃ sahassānan ti sahassaṃ sahassaṃ katvā gaṇitānaṃ purisānaṃ sataṃ, satasahassan ti attho. Sahassayāginan ti bhikkhusahassassa vā yāgo kahāpaṇasahassena vā nibbattito yāgopi sahassayāgo. Ye ettakaṃ dadanti, te kalampi nāgghanti tathāvidhassā ti āha. Yaṃ tena daliddena ekapaṭivīsakamattampi salākabhattamattampi vā dinnaṃ, tassa dānassa sabbesampi tesaṃ dānaṃ kalaṃ nāgghatī ti. Kalaṃ nāma soḷasabhāgopi satabhāgopi sahassabhāgopi. Idha satabhāgo gahito.
Kenā ti kena kāraṇena. Mahaggato ti mahattaṃ gato, vipulassetaṃ vevacanaṃ. Samena dinnassā ti samena dinnassa dānassa. Visame niviṭṭhā ti visame kāyavacīmanokamme patiṭṭhitā hutvā. Chetvā ti pothetvā. Vadhitvā ti māretvā. Socayitvā ti paraṃ sokasampannaṃ katvā. Assumukhā ti paraṃ rodāpetvā dinnadānaṃ. Sadaṇḍā ti daṇḍena tajjetvā paharitvā dinnadakkhiṇā.
Evaṃ ti nāhaṃ sammāsambuddhatāya mahādānaṃ gahetvā appaphalaṃ nāma kātuṃ sakkomi parittakadānaṃ vā mahapphalaṃ nāma. Idaṃ pana mahādānaṃ attano uppattiyā aparisuddhatāya evaṃ appaphalaṃ nāma hoti, itaraṃ parittadānaṃ attano uppattiyā parisuddhatāya evaṃ mahapphalaṃ nāmā ti imamatthaṃ dassento evan ti ādimāhā ti. Dutiyaṃ.

Trong bài kinh thứ hai [của phẩm]:

Maccherā ca pamādā ca — do xan tham, tức pháp có tướng trạng giấu kín sự đầy đủ của mình, và do phóng dật, tức pháp có tướng trạng niệm bị rời đi. Có người nghĩ: “Nếu ta cho, cái này sẽ hao; ta hoặc người trong nhà sẽ không còn”, rồi vì xan tham mà không cho. Có người vì mải mê vui chơi nên ý nghĩ “phải bố thí” còn không khởi.

Evaṃ dānaṃ na dīyati — vì vậy pháp thí vốn đem lại danh, sự giàu có, thành tựu và lạc, đã không được thực hiện.

Puññaṃ ākaṅkhamānena — người muốn phước, kể cả tư tâm trước khi cho.

Deyyaṃ hoti vijānatā — người biết “thí có quả” thì phải cho.

Tameva bālaṃ phusati — chính đói và khát ấy chạm đến, bám theo, không rời kẻ ngu, ở đời này và đời sau.

Vineyya maccheraṃ — sau khi dẫn ra, trừ khử cấu uế xan tham.

Malābhibhū — trở thành người chiến thắng cấu uế ấy rồi hãy cho.

Te matesu na mīyanti — những người có tánh thí không phải là kẻ chết giữa những kẻ chết vì không thí. Người chết dù đồ ăn thức uống để đầy quanh mình cũng không đứng dậy nói “cái này cho người này”. Kẻ không thí cũng vậy. Của người chết và của kẻ keo, xét về sự thọ dụng thật, là ngang nhau.

Panthānaṃva sahabbajaṃ — như khách đồng hành qua đường hiểm, lương khô ít vẫn chia. Cũng vậy, những người cùng đi trên sa mạc sanh tử vô thỉ, dù vật thí ít ỏi vẫn phân chia.

Esa dhammo sanantano — đây là pháp cổ, pháp của các bậc trí xưa.

Appasmā dakkhiṇā … sahassena samaṃ mitā — thí từ chỗ ít được cân bằng với thí nghìn.

Duranvayo — khó theo cho kịp, khó làm đầy.

Dhammaṃ care yopi samuñjakaṃ care — người sống theo mười thiện nghiệp đạo, dù sống bằng thóc rơi, rơm rạ sau khi quét sân đập lúa.

Dārañca posaṃ dadamappakasmiṃ — vừa nuôi vợ con, vẫn chia cả khi chỉ có rau lá.

Sataṃ sahassānaṃ sahassayāginaṃ kalampi nāgghanti — trăm ngàn người, mỗi người làm lễ tế nghìn, không bằng một phần nhỏ thí của người như vậy. Dù người nghèo chỉ cho một phần cơm hay một phần ăn bằng thẻ, toàn bộ đại thí kia không bằng một kala của thí ấy. Ở đây kala được lấy theo nghĩa một phần trăm.

Vị thiên đứng gần nghĩ: Thế Tôn như lấy chân đẩy đại thí vào vực, rồi nâng thí nhỏ lên như mặt trăng. Vì sao thí nhỏ lại quả lớn hơn?

Visame niviṭṭhā — an trú trong thân khẩu ý bất chính.

Chetvā vadhitvā socayitvā — đánh, giết, làm người khác sầu rồi mới cho.

Assumukhā — thí làm người khác khóc.

Sadaṇḍā — thí do doạ nạt, đánh đập mà có.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

IV. Phẩm Quần Tiên

II. Xan Tham

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Đứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Điều kẻ xan tham sợ,
Nên không dám bố thí,
Sợ ấy đến với họ,
Chính vì không bố thí.
Điều kẻ xan tham sợ,
Chính là đói và khát,
Kẻ ngu phải cảm thọ,
Đời này và đời sau.
Vậy hãy chế xan tham,
Bố thí, nhiếp cấu uế,
Chúng sanh vững an trú,
Công đức trong đời sau.

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Không chết giữa người chết,
Như thiện hữu trên đường,
San sẻ lương thực hiếm,
Thường pháp là như vậy.
Kẻ ít, vui san sẻ,
Kẻ nhiều khó, đem cho,
Bố thí từ kẻ khó,
Đong được ngàn đồng vàng.

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Khó thay sự đem cho,
Khó thay làm hạnh ấy.
Kẻ ác khó tùy thuận,
Khó thay pháp bậc lành.
Do vậy kẻ hiền, ác,
Sanh thú phải sai khác,
Kẻ ác sanh địa ngục,
Người lành lên cõi trời.

Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
— Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một cách tốt đẹp?

— Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:

Sở hành vẫn chơn chánh,
Dầu phải sống vụn vặt,
Dầu phải nuôi vợ con,
Với đồ ăn lượm lặt,
Nhưng vẫn bố thí được,
Từ vật chứa ít ỏi,
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.

Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Vì sao họ bố thí,
Rộng lớn nhiều như vậy,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí?
Sao ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy?

Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:

Có những người bố thí,
Một cách bất bình thường,
Sau khi chém và giết,
Mới làm vơi nỗi sầu.
Sự bố thí như vậy,
Đầy nước mắt đánh đập,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ nghèo, chơn bố thí.
Từ ngàn người bố thí,
Từ trăm ngàn vật cho,
Trị giá không ngang bằng,
Kẻ bố thí như vậy.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01