BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 21, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Chúng Thiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.33
BÀI 033. GIÁ TRỊ CỦA PHÁP THÍ -

Kinh Lành Thay (Sādhusutta) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-033.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngNgười đời thường nghĩ “làm phước” là mang vật ra cho. Bài kinh này cho thấy bố thí không phải một việc đơn giản. Chư thiên lần lượt bổ sung từng điều kiện: phải cho, phải cho dù ít, phải cho với tín, phải cho từ tài sản hợp pháp do tinh tấn tạo ra, phải cho có suy xét đúng người đáng nhận, và cuối cùng phải kèm theo sự tự chế đối với chúng sanh. Mỗi lần thêm một phẩm chất, bố thí càng trở nên sâu.

Nhưng Đức Phật không dừng lại ở đó. Ngài không phủ nhận bố thí; Ngài đặt bố thí đúng chỗ của nó. Bố thí có thể đưa người vượt sông Vetaraṇī của Diêm Vương, sanh thiên. Pháp thì đưa người ra khỏi sanh tử. Một hạt giống gieo đúng ruộng cho quả lớn; một pháp cú được thực hành đưa đến chỗ không còn hạt giống nào phải gieo nữa.

Bài kinh vì vậy là một bậc thang: từ “nên cho” đến “cho thế nào”, rồi đến “còn có cái hơn sự cho.” Điểm then chốt không phải chê bố thí, mà là thấy bố thí vẫn còn nằm trong phạm vi phước hữu lậu, trong khi dhammapada — con đường Chánh Pháp, lời Pháp được sống — mới là chỗ các bậc trí từ quá khứ đã chứng ngộ Niết-bàn.

Kinh văn
Sāvatthinidāna
ṃ. Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. Ekamantaṃ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi — “Sādhu kho, mārisa, dānaṃ.
Maccherā ca pamādā ca, evaṃ dānaṃ na dīyati.
Puññaṃ ākaṅkhamānena, deyyaṃ hoti vijānatā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi — “Sādhu kho, mārisa, dānaṃ.
Api ca appakasmimpi sāhu dānaṃ.
Appasmeke pavecchanti, bahuneke na dicchare.
Appasmā dakkhiṇā dinnā, sahassena samaṃ mitā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi — “Sādhu kho, mārisa, dānaṃ; appakasmimpi sāhu dānaṃ.
Api ca saddhāyapi sāhu dānaṃ.
Dānañca yuddhañca samānamāhu,
Appāpi santā bahuke jinanti.
Appampi ce saddahāno dadāti,
Teneva so hoti sukhī paratthā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi —
“Sādhu kho, mārisa, dānaṃ; appakasmimpi sāhu dānaṃ.
Saddhāyapi sāhu dānaṃ; api ca dhammaladdhassāpi sāhu dānaṃ.
Yo dhammaladdhassa dadāti dānaṃ,
Uṭṭhānavīriyādhigatassa jantu.
Atikkamma so vetaraṇiṃ yamassa,
Dibbāni ṭhānāni upeti macco”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi —
“Sādhu kho, mārisa, dānaṃ; appakasmimpi sāhu dānaṃ.
Saddhāyapi sāhu dānaṃ; dhammaladdhassāpi sāhu dānaṃ.
Api ca viceyya dānampi sāhu dānaṃ.
Viceyya dānaṃ sugatappasatthaṃ,
Ye dakkhiṇeyyā idha jīvaloke.
Etesu dinnāni mahapphalāni,
Bījāni vuttāni yathā sukhette”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi —
“Sādhu kho, mārisa, dānaṃ; appakasmimpi sāhu dānaṃ.
Saddhāyapi sāhu dānaṃ; dhammaladdhassāpi sāhu dānaṃ.
Viceyya dānampi sāhu dānaṃ; api ca pāṇesupi sādhu saṃyamo.
Yo pāṇabhūtāni aheṭhayaṃ caraṃ,
Parūpavādā na karonti pāpaṃ.
Bhīruṃ pasaṃsanti na hi tattha sūraṃ,
Bhayā hi santo na karonti pāpan”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavantaṃ etadavoca — “Kassa nu kho,
bhagavā, subhāsitan”ti?
“Sabbāsaṃ vo subhāsitaṃ pariyāyena, api ca mamapi suṇātha —

Saddhā hi dānaṃ bahudhā pasatthaṃ,
Dānā ca kho dhammapadaṃva seyyo.
Pubbe ca hi pubbatare ca santo,
Nibbānamevajjhagamuṃ sapaññā”ti.

Nhân duyên tại Sāvatthī. Rồi rất nhiều vị thiên thuộc chúng Satullapakāyikā, khi đêm đã tàn, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn thể Jetavana, đi đến Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, một vị thiên nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:

Vì bỏn sẻn, phóng dật
Chẳng chịu trải lòng cho.
Bậc hiền trí cầu phước,
Ắt hoan hỷ sẻ chia.
Rồi một vị thiên khác nói lên lời cảm hứng trước mặt Thế Tôn:
Kính bạch Đấng Chí Tơn:
“Lành thay hạnh bố thí!
Dẫu của tiền ít ỏi,
Càng đáng quý nhường bao!”
“Kẻ nghèo vui san sẻ,
Lắm kẻ giàu lại keo.
Của ít lòng thanh tịnh,
Sánh vạn lượng vàng gieo.”
Vị thiên khác thưa tiếp:
“Lành thay hạnh bố thí!
Dẫu ít vẫn tốt lành!
Cúng dường với tịnh tín,
Lại càng thêm cao quý!”
“Bố thí như ra trận,
Tại tinh bất tại đa.
Bố thí với niềm tin ,
Đời sau nhiều phúc quả.”
Vị thiên khác lại thưa:
“Lành thay hạnh bố thí!
Của ít vẫn san sẻ,
Cùng trọn vẹn đức tin;
Vật thí được hợp đạo,
Lại càng lành tốt thay!”
“Vật do mình đổ sức,
Cần lao kiếm nuôi thân,
Đem cúng dường thanh tĩnh,
Vượt dòng sông địa ngục,
Thân hoại liền sinh thiên.”
Vị thiên khác lại thưa:
“Lành thay hạnh bố thí!
Của ít vẫn san sẻ,
Cùng trọn vẹn đức tin;
Vật chơn chánh làm ra;
Lại lựa chọn khi thí,
Lại càng cao quý thay!”
“Khéo chọn được Phật khen:
Kính dâng bậc xứng thọ,
Giữa cõi trần đảo điên.
Phước trổ sinh vô lượng,
Như gieo lúa ruộng tốt.”
Vị thiên khác thưa rằng:
“Lành thay hạnh bố thí!
Của ít vẫn san sẻ,
Cùng trọn vẹn đức tin;
Vật chơn chánh làm ra;
Biết chọn lựa ruộng phước;
Và không tổn hại ai,
Càng thù thắng vẹn toàn!”
“Sống không làm tổn mạng,
Sợ lỗi, chẳng làm xằng.
Khen người sợ quấy ác,
Đâu chuộng kẻ liều thân;
Sợ tội, giữ tâm lành.”

Rồi một vị thiên khác bạch Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, lời của ai được xem là khéo nói ?”
“Tất cả các vị đều khéo nói tuỳ phương diện phương diện. Nhưng hãy nghe cả lời của Ta:
Tài thí đáng tán than
Nhưng Pháp thí vẫn hơn
Bậc trí từ ngàn xưa
Nhờ Pháp chứng Niết-bàn.”

Chú thích

Kinh được ghi tại Sāvatthī, Kỳ Viên. Đêm đã tàn, nhiều vị thiên thuộc chúng Satullapakāyikā, dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn Jetavana, đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên, lần lượt nói lên những lời cảm hứng (udāna) ca ngợi bố thí. Cuối cùng một vị hỏi: “Lời của ai được nói tốt?” Đức Thế Tôn xác nhận tất cả đều nói đúng theo một phương diện (pariyāyena), rồi đưa ra lời quyết định: bố thí được tán thán nhiều mặt, nhưng con đường Pháp còn hơn bố thí, vì chính nhờ Pháp mà các bậc thiện trí từ xưa đã chứng Niết-bàn.

Satullapakāyikā — chúng thiên “tán thán điều lành.” Sớ giải chú thích họ được sanh thiên vì từng tán dương và thực hành pháp của người thiện.

Sādhu / sāhu — lành, tốt, đáng làm. Toàn bài kinh xây trên từ này, mỗi vị thiên thêm một điều kiện làm cho việc “lành” ấy đầy đủ hơn.

Macchera — bỏn sẻn, keo kiệt, tâm không muốn chia. Pamāda — phóng dật, quên mất việc nên làm. Hai pháp này khiến bố thí không xảy ra dù người ấy vẫn “muốn có phước.”

Appakasmimpi sāhu dānaṃ — dù ít vẫn tốt. Không phải số lượng quyết định giá trị ban đầu của thí, mà tâm chịu cho từ chỗ mình đang có.

Sahassena samaṃ mitā — được cân bằng với ngàn lần. Không phải toán học tuyệt đối, mà nhấn mạnh lực của thí từ chỗ thiếu thốn, khi tâm không bị keo kiệt chi phối.

Saddhā — ở đây Sớ giải hiểu là tín nơi nghiệp và quả của nghiệp. Bố thí không tín dễ thành giao dịch; bố thí có tín mới thành nhân sanh lạc.

Dānañca yuddhañca samānamāhu — bố thí và chiến trận được nói là tương tợ. Ví dụ: ít người dũng thắng nhiều kẻ nhát; ít thí có tín thắng nhiều xan tham.

Dhammaladdha — tài sản có được đúng pháp, hoặc (theo một cách đọc của Sớ giải) người đã thành tựu pháp. Cách hiểu “của cải kiếm đúng pháp bằng tinh tấn” phù hợp ngữ cảnh hơn.

Uṭṭhānavīriyādhigata — thâu hoạch nhờ đứng dậy làm việc và tinh tấn. Bố thí không phải từ của phi pháp, cũng không phải từ của ngồi không mà có.

Vetaraṇī yamassa — sông Vetaraṇī trong cảnh giới Yama, hình ảnh con sông phải vượt khi chết. Sớ giải xem đây là cách nói đại diện cho các đại địa ngục mà người thí đúng pháp vượt qua.

Viceyya dāna — bố thí có phân biệt, có suy xét: chọn đúng ruộng phước (dakkhiṇeyya). Hạt giống tốt vẫn cần ruộng tốt.

Pāṇesu saṃyamo — tự chế đối với chúng sanh. Bố thí nếu không kèm không sát hại thì vẫn thiếu nền tảng giới.

Parūpavādā na karonti pāpaṃ — không làm ác vì sợ người chê. Câu kệ khó: không phải khen nhút nhát theo nghĩa hèn, mà nói người lành tránh ác vì thấy sợ quả, không vì muốn tỏ ra “dũng cảm” bất chấp.

Pariyāyena — theo một phương diện, theo một lối nói. Đức Phật không bác lời chư thiên; Ngài nói những lời ấy đúng trong phạm vi phước thế gian.

Dhammapadaṃva seyyo — Pháp cú, con đường Pháp, lời Pháp được thực hành, còn hơn bố thí. Không phải chê thí, mà đặt thí dưới đạo lộ đưa đến Niết-bàn.

Pubbe ca pubbatare ca — thời quá khứ và thời còn trước nữa. Sớ giải: thời Đức Phật Kassapa v.v., và thời các Đức Phật còn trước đó. Các bậc thiện có trí đã chứng Niết-bàn bằng Pháp, không chỉ bằng thí.

Bài kinh dựng một chuỗi tăng dần:Cho → cho dù ít → cho với tín → cho từ của đúng pháp do tinh tấn → cho có suy xét đúng ruộng → kèm tự chế không hại sanh mạng. Rồi Đức Phật đặt tầng trên cùng: Pháp còn hơn thí. Thí xây dựng chỗ đứng tốt trong sanh tử; Pháp cắt đứt sanh tử. Người chỉ biết thí có thể vẫn còn xan, còn phóng dật, còn sợ mất của. Người sống theo Pháp cú thì ngay cả tâm muốn “có thêm phước để hưởng” cũng được nhìn thấy và buông.

Sớ giải

 33. tatiye udānaṃ udānesīti udāhāraṃ udāhari. yathā hi yaṃ telaṃ mānaṃ gahetuṃ na sakkoti vissanditvā gacchati, taṃ avasesakoti vuccati. yañca jalaṃ taḷākaṃ gahetuṃ na sakkoti, ajjhottharitvā gacchati, taṃ oghoti vuccati, evamevaṃ yaṃ pītivacanaṃ hadayaṃ gahetuṃ na sakkoti, adhikaṃ hutvā anto asaṇṭhahitvā bahi nikkhamati, taṃ udānanti vuccati. evarūpaṃ pītimayaṃ vacanaṃ nicchāresīti attho. saddhāyapi sāhu dānanti kammañca kammaphalañca saddahitvāpi dinnadānaṃ sāhu laddhakaṃ bhaddakameva. āhūti kathenti.
kathaṃ panetaṃ ubhayaṃ samaṃ nāma hotīti? jīvitabhīruko hi yujjhituṃ na sakkoti, khayabhīruko dātuṃ na sakkoti. “jīvitañca rakkhissāmi yujjhissāmi cā”ti hi vadanto na yujjhati. jīvite pana ālayaṃ vissajjetvā, “chejjaṃ vā hotu maraṇaṃ vā, gaṇhissāmetaṃ issariyan”ti ussahantova yujjhati. “bhoge ca rakkhissāmi, dānañca dassāmī”ti vadanto na dadāti. bhogesu pana ālayaṃ vissajjetvā mahādānaṃ dassāmīti ussahantova deti.
evaṃ dānañca yuddhañca samaṃ hoti. kiñca bhiyyo? appāpi santā bahuke jinantīti yathā ca yuddhe appakāpi vīrapurisā bahuke bhīrupurise jinanti, evaṃ saddhādisampanno appakampi dānaṃ dadanto bahumaccheraṃ maddati, bahuñca dānavipākaṃ adhigacchati. evampi dānañca yuddhañca samānaṃ. tenevāha — “appampi ce saddahāno dadāti, teneva so hoti sukhī paratthā”ti.
imassa ca panatthassa pakāsanatthaṃ ekasāṭakabrāhmaṇavatthu ca aṅkuravatthu ca vitthāretabbaṃ.
dhammaladdhassāti dhammena samena laddhassa bhogassa dhammaladdhassa ca puggalassa. ettha puggalo laddhadhammo nāma adhigatadhammo ariyapuggalo. iti yaṃ dhammaladdhassa bhogassa dānaṃ dhammaladdhassa ariyapuggalassa dīyati, tampi sādhūti attho. yo dhammaladdhassāti imasmimpi gāthāpade ayameva attho. uṭṭhānavīriyādhigatassāti uṭṭhānena ca vīriyena ca adhigatassa bhogassa. vetaraṇinti desanāsīsamattametaṃ. yamassa pana vetaraṇimpi sañjīvakāḷasuttādayopi ekatiṃsamahānirayepi sabbasova atikkamitvāti attho.
viceyya dānanti vicinitvā dinnadānaṃ. tattha dve vicinanā dakkhiṇāvicinanaṃ dakkhiṇeyyavicinanañca. tesu lāmakalāmake paccaye apanetvā paṇītapaṇīte vicinitvā tesaṃ dānaṃ dakkhiṇāvicinanaṃ nāma. vipannasīle ito bahiddhā pañcanavutipāsaṇḍabhede vā dakkhiṇeyye pahāya sīlādiguṇasampannānaṃ sāsane pabbajitānaṃ dānaṃ dakkhiṇeyyavicinanaṃ nāma. evaṃ dvīhākārehi viceyya dānaṃ. sugatappasatthanti sugatena vaṇṇitaṃ. tattha dakkhiṇeyyavicinanaṃ dassento ye dakkhiṇeyyātiādimāha. bījāni vuttāni yathāti iminā pana dakkhiṇāvicinanaṃ āha. avipannabījasadisā hi vicinitvā gahitā paṇītapaṇītā deyyadhammāti.
pāṇesupi sādhu saṃyamoti pāṇesu saṃyatabhāvopi bhaddako. ayaṃ devatā itarāhi kathitaṃ dānānisaṃsaṃ atikkamitvā sīlānisaṃsaṃ kathetumāraddhā. aheṭhayaṃ caranti avihiṃsanto caramāno. parūpavādāti parassa upavādabhayena. bhayāti upavādabhayā. dānā ca kho dhammapadaṃva seyyoti dānato nibbānasaṅkhātaṃ dhammapadameva seyyo. pubbe ca hi pubbatare ca santoti pubbe ca kassapabuddhādikāle pubbatare ca koṇāgamanabuddhādikāle, sabbepi vā ete pubbe ca pubbatare ca santo nāmāti. tatiyaṃ.

33. Trong bài kệ thứ ba (của phẩm):
Cụm từ “đã thốt lên lời cảm khái” (udānaṃ udānesi) nghĩa là đã phát xuất ra một lời cảm thán tràn đầy xúc cảm. Ví như lượng dầu quá đầy khiến dụng cụ đong lường không thể chứa hết mà tràn ra ngoài, phần ấy gọi là phần dầu tràn (avasesaka). Cũng như khi nước ngập tràn khiến hồ đắp không giữ nổi mà vỡ bờ tuôn chảy, đó gọi là dòng thác lũ (ogha). Cũng y như thế, khi một lời nói thấm đẫm hỷ lạc phát sinh từ tâm thức dâng trào đến mức con tim không còn gom giữ nổi, không thể nén chặt lại bên trong mà phải bật thốt ra ngoài, thì đó gọi là lời cảm hứng (udāna). Nghĩa là vị thiên ấy đã cất lên lời nói trác tuyệt do hỷ lạc tràn đầy biến hiện thành.

“Bố thí với niềm tin lại càng lành thay” (saddhāyapi sāhu dānaṃ): Việc bố thí với niềm tin bất động nơi nghiệp và quả của nghiệp (kamma-kammaphala) thật là điều quý hóa, tốt đẹp và đáng tán thán.

“Người xưa ví” (āhu): tức các bậc hiền trí thuở trước thường nói.
Vì lẽ gì hai việc này – bố thí và chiến trận – lại được xem là tương đồng nhau?
Bởi vì kẻ sợ chết thì không thể nào xông pha trận mạc; kẻ sợ hao mòn tài sản thì không thể nào mở rộng lòng bố thí. Kẻ luôn tự nhủ: “Ta vừa phải giữ toàn mạng sống, vừa phải đánh trận” thì quyết chẳng bao giờ thật sự chiến đấu được. Chỉ khi nào buông bỏ luyến ái nơi thân mạng, hạ quyết tâm rằng: “Dẫu đầu rơi máu chảy hay mạng vong thác hóa, ta quyết phải giành lấy chiến thắng hiển hách này!” – có dũng khí dấn thân như thế mới lâm trận được. Cũng vậy, kẻ cứ nghĩ ngợi: “Ta vừa phải giữ gìn của cải, lại vừa muốn đem cho” thì chẳng bao giờ thực sự cho ra được. Chỉ người nào xả ly triệt để lòng bám víu vào tài vật, dõng mãnh phát nguyện: “Ta quyết đem tài sản này làm cuộc đại thí!” – nuôi dưỡng chí nguyện bất thoái ấy mới thực sự bố thí được. Theo lẽ ấy, bố thí và chiến trận vốn đồng một thể tánh kiên cường.
Hơn thế nữa, thế nào là “quân số ít ỏi vẫn thắng đông” (appāpi santā bahuke jinanti)?
Ví như trong trận địa, dẫu chỉ một toán dũng sĩ quả cảm vẫn có thể đè bẹp cả đoàn quân hèn nhát đông đảo; cũng vậy, người đầy đủ lòng tin (saddhā), dầu của cải bố thí ít ỏi, vẫn chiến thắng và nghiền nát được khối tâm xan tham keo kiết thâm căn cố đế, để rồi thành tựu quả báo dị thục vô lượng vô biên. Xét về phương diện này, bố thí cùng với việc lâm trận hoàn toàn tương đồng. Vì cớ ấy nên bài kệ mới dạy:

“Dầu của ít, nhưng lòng tin kiên định. Đời sau hưởng trọn cảnh an vui.”
Để làm sáng tỏ trọn vẹn ý nghĩa thâm sâu này, nên quảng diễn chi tiết tích chuyện về bà-la-môn chỉ có một tấm áo choàng (Ekasāṭaka-brāhmaṇa) và tích chuyện về công tử Aṅkura (Aṅkura-vatthu).

“Của cải chân chánh” (dhammaladdassa): mang hai tầng ý nghĩa – một là tài sản thâu hoạch được một cách chân chánh, hợp với pháp tắc công bình; hai là phẩm vật hiến cúng cho bậc đã đắc Pháp (dhammaladdha-puggala). Ở đây, bậc đắc Pháp chính là bậc Thánh nhân (ariya-puggala) đã chứng ngộ Chánh pháp cứu cánh. Do đó, ý nghĩa trọn vẹn là: Phẩm vật chân chánh do sức mình làm ra đem cúng dường lên bậc Thánh nhân đã đắc Thánh Pháp, việc bố thí ấy thật là thù thắng, cao quý.
Trong câu kệ “Ai đem tài sản chơn chánh bố thí” (yo dhammaladdassa), nghĩa lý cũng y như vậy.

“Nhờ siêng năng nỗ lực kiếm ra” (uṭṭhānavīriyādhigatassa): là tài sản có được nhờ vào sự tinh cần tháo vát và nghị lực kiên cường nơi tự thân.

“Dòng sông địa ngục của Diêm-ma” (vetaraṇiṃ): Đây là cách nói mang tính biểu trưng làm đầu đề giáo giới (desanāsīsa). Ý nghĩa thực sự là người ấy vượt thoát trọn vẹn không chỉ riêng con sông Vetaraṇī của cõi Diêm vương, mà vượt qua tất cả các chốn địa ngục khốc liệt như Sañjīva (Hồi sinh), Kāḷasutta (Hắc thằng)... cho đến cùng khắp cả ba mươi mốt tầng đại địa ngục.

“Bố thí có suy xét, lựa chọn” (viceyya dānaṃ): nghĩa là bố thí sau khi đã cẩn trọng phân định tỏ tường.
Ở đây có hai hình thái suy xét chọn lựa:

1.    Chọn lựa vật thí (dakkhiṇā-vicinana): Loại trừ những phẩm vật tồi tàn, khiếm khuyết, bợn nhơ để trạch tuyển những đồ cúng dường tinh sạch, thù thắng và tôn quý nhất.

2.    Chọn lựa người thọ thí (dakkhiṇeyya-vicinana): Tránh xa những kẻ phá giới, buông lung thuộc 95 bộ phái ngoại đạo ngoài Phật giáo; mà chọn lựa hướng tâm cúng dường đến các bậc xuất gia trong Chánh pháp – những bậc trang nghiêm giới đức và thành tựu các công hạnh tu tập giải thoát.
Đó chính là hai phương diện của bố thí có chọn lựa.

“Được Đấng Thiện Thệ tán thán” (sugatappasatthaṃ): tức được chính Đức Thế Tôn ngợi khen. Để chỉ rõ việc trạch lựa người thọ thí, Ngài dạy câu kệ bắt đầu bằng: “Đối với những bậc xứng đáng thọ nhận ở đời...” (ye dakkhiṇeyyā...). Để chỉ rõ việc trạch lựa vật thí, Ngài dạy câu: “Như hạt giống tốt được gieo trồng...” (bījāni vuttāni yathā...). Bởi vì phẩm vật cúng dường thù thắng, tinh sạch được chọn lựa kỹ càng chẳng khác nào những hạt giống thuần khiết, mẩy chắc, không tì vết.

“Tiết chế, không làm hại chúng sanh lại càng lành thay” (pāṇesupi sādhu saṃyamo): Sự phòng hộ, giữ gìn giới hạnh không xâm phạm mạng sống của muôn loài hữu tình là một hạnh lành tối thắng. Vị thiên này đã vượt lên trên mọi công đức bố thí do các vị thiên trước ca ngợi, để bắt đầu xiển dương công đức siêu việt của Giới (sīla).

“Sống không bức hại” (aheṭhayaṃ caraṃ): nghĩa là trong từng oai nghi đi lại, cư xử đều an trú nơi tâm bất hại, không gây thương tổn cho bất kỳ chúng sanh nào.

“Vì sợ chê trách” (parūpavādā): do tâm biết sợ hãi lời khiển trách của bậc thức giả và người đời (parassa upavādabhayena).

“Do sợ hãi” (bhayā): tức do sự ghê sợ tội lỗi và quả báo xấu ác mà bậc hiền thiện dứt khoát không gây tạo điều bất thiện.

“Nhưng dấu chân Chánh pháp (Pháp cú) vẫn thù thắng hơn sự bố thí” (dānā ca kho dhammapadaṃva seyyo): So với việc bố thí tài vật, thì Pháp cú – tức danh xưng chỉ cho Thánh Đạo dẫn đến Niết-bàn – lại thù thắng và tôn quý vượt trội hơn muôn phần.

“Bậc thiện nhân thuở xưa và xưa hơn nữa” (pubbe ca hi pubbatare ca santo):

Thuở xưa (pubbe) là chỉ vào thời kỳ của Đức Phật Kassapa (Ca Diếp) cùng các thời gần; xưa hơn nữa (pubbatare) là chỉ vào thời kỳ của Đức Phật Koṇāgamana (Câu Na Hàm Mâu Ni) cùng các vị Phật thời quá khứ xa xăm. Hoặc tóm lại, từ ngữ này chỉ chung cho tất cả các bậc hiền triết, chư Thánh hữu trí ở mọi thời đại quá khứ đã nhờ nương tựa, tu tập trọn vẹn Thánh Đạo mà tự thân chứng đạt cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh.

(Dứt phần Sớ giải bài kinh thứ ba).

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

IV. Phẩm Quần Tiên

III. Lành Thay
(S.i,20)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Đứng một bên, một vị Thiên nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí!
Kính thưa bậc Tôn giả.
Vì xan tham, phóng dật,
Như vậy không bố thí,
Ai ước mong công đức,
Có trí nên bố thí.
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Có người cho từ ít,
Người nhiều lại không cho.
Vật thí từ chỗ ít,
Được xem bằng ngàn phần.
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Bố thí và chiến trận,
Người ta nói giống nhau.
Ít người lành vẫn thắng
Được số đông người khác.
Người có tín cho ít,
Được an lạc đời sau.
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Ai là người bố thí,
Với tài sản hợp pháp,
Do nỗ lực tinh tấn,
Nhờ vậy thâu hoạch được;
Vị ấy vượt dòng suối,
Thần chết Dạ-ma giới,
Sau khi chết được sanh,
Chỗ trú xứ chư Thiên.
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Lành thay sự bố thí,
Có suy tư sáng suốt!
Bố thí có suy tư,
Bậc Thiện Thệ tán thán.
Bố thí cho những vị,
Đáng kính trọng ở đời,
Bố thí những vị ấy,
Được hưởng quả phước lớn,
Như hạt giống tốt đẹp,
Gieo vào ruộng tốt lành.
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay sự bố thí,
Kính thưa bậc Tôn giả!
Nhưng thật tốt lành thay,
Bố thí trong thiếu thốn!
Lành thay sự bố thí,
Phát xuất từ lòng tin!
Lành thay sự bố thí,
Với tài sản hợp pháp!
Lành thay sự bố thí,
Có suy tư sáng suốt!
Lành thay sự tự chế,
Đối với các chúng sanh!
Giữa chúng sanh hữu tình,
Ai sống không làm hại,
Sợ người khác chỉ trích,
Không làm ác, bất thiện,
Họ khen kẻ nhút nhát,
Nhưng chỉ trích người hùng,
Chính sợ bị chỉ trích,
Người lành không làm ác.
Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
— Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, lời nói ai được tốt lành?
— Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe lời của Ta:
Bố thí với lòng tin,
Được tán thán nhiều mặt,
Có pháp hơn bố thí,
Pháp ấy là Pháp cú.
Từ xưa, từ xa xưa,
Người lành, người chơn thiện,
Với trí tuệ sáng suốt,
Đạt đến cảnh Niết-bàn.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01