BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 23, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Quần Tiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.34
BÀI 034. CƯ TRẦN BẤT NHIỄM TRẦN -

Kinh Không Có (Nasantisuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-034.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngCon người sinh ra giữa đời thường lầm tưởng rằng hạnh phúc nằm ở việc chiếm hữu những đối tượng khả ái, khả hỷ bên ngoài. Nhưng chư Phật ba đời đều chỉ rõ: chính ngọn lửa dục vọng (kāma) là gốc rễ của luân hồi sinh tử. Dục lạc thế gian bản chất là vô thường, trôi nổi, biến đổi khôn lường; kẻ đam mê chìm đắm trong đó tất yếu sẽ trở lại vòng cương tỏa của Ma vương (maccudheyya).

Tuy nhiên, ngục tù thực sự không nằm ở cảnh vật hữu tình hay vô tình tươi đẹp ngoài kia, mà nằm ngay trong sự say đắm, tầm cầu, ái chấp (saṅkapparāgo). Bậc trí tuệ là người không trốn chạy cảnh trần mà điều phục, nhiếp phục sự khát ái đối với sắc trần ấy. Khi dứt trừ sân hận, ngã mạn, cởi bỏ hoàn toàn mọi kiết sử trói buộc, tâm không còn bám víu vào danh sắc (nāmarūpa), hành giả bước vào cảnh giới tự tại thênh thang của bậc Ứng Cúng. Bậc giải thoát ấy vượt qua mọi ngôn ngữ chế định, không còn dấu vết để chư thiên hay nhân loại có thể tầm cầu, dò xét; và chỉ riêng việc chiêm bái, đảnh lễ một bậc xuất trần thượng sĩ như thế cũng đủ đem lại công đức giải thoát vô lượng cho hàng đệ tử biết đoạn trừ nghi hoặc và hướng về nẻo chánh.

Kinh Văn

34.Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. Ekamantaṃ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi —

“Na santi kāmā manujesu niccā,
santīdha kamanīyāni yesu baddho.
yesu pamatto apunāgamanaṃ,
anāgantā puriso maccudheyyā”ti.
“Chandajaṃ aghaṃ chandajaṃ dukkhaṃ.
chandavinayā aghavinayo.
aghavinayā dukkhavinayo”ti.
“Na te kāmā yāni citrāni loke,
saṅkapparāgo purisassa kāmo.
tiṭṭhanti citrāni tatheva loke,
athettha dhīrā vinayanti chandaṃ.
“Kodhaṃ jahe vippajaheyya mānaṃ,
saṃyojanaṃ sabbamatikkameyya.
Taṃ nāmarūpasmimasajjamānaṃ,
akiñcanaṃ nānupatanti dukkhā.
“Pahāsi saṅkhaṃ na vimānamajjhagā,
acchecchi taṇhaṃ idha nāmarūpe.
Taṃ chinnaganthaṃ anighaṃ nirāsaṃ,
pariyesamānā nājjhagamuṃ.
Devā manussā idha vā huraṃ vā,
saggesu vā sabbanivesanesū”ti.
“Taṃ ce hi nāddakkhuṃ tathāvimuttaṃ,
(iccāyasmā mogharājā)
Devā manussā idha vā huraṃ vā.
Naruttamaṃ atthacaraṃ narānaṃ,
ye taṃ namassanti pasaṃsiyā te”ti.
“Pasaṃsiyā tepi bhavanti bhikkhū,
(mogharājāti bhagavā)
Ye taṃ namassanti tathāvimuttaṃ.
Aññāya dhammaṃ vicikicchaṃ pahāya,
saṅgātigā tepi bhavanti bhikkhū”ti.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của trưởng giả Anāthapiṇḍika.

Khi đêm đã về khuya, nhiều vị thiên thuộc nhóm Satullapakāyika, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn khu rừng Jetavana, đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi đến, các vị đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên.

Một vị thiên đứng sang một bên, nói lên bài kệ này trước Đức Thế Tôn:

Vị thiên thứ nhất

Dục giữa cõi nhân gian,
Chẳng có gì thường còn;
Chỉ cảnh đời khả ái,
Khiến người mãi buộc ràng.

Ai mê say phóng dật,
Giữa những cảnh trần gian,
Khó ra ngoài cõi chết,
Khó đạt cảnh bất hoàn.

Một vị thiên khác nói:

Khốn khổ từ dục sinh,
Đau thương từ dục khởi;
Dục tận, khổ não tan,
Não tận, đau cũng dứt.

Đức Thế Tôn dạy:

Cảnh đẹp chẳng là dục,
Dẫu muôn vẻ trên đời;
Dục là lòng tham nhiễm,
Do tâm tưởng con người.

Cảnh khả ái như vậy,
Vẫn hiện hữu trên đời;
Bậc trí ngay nơi ấy,
Dứt đoạn những ái tham.

Hãy buông lòng sân hận,
Hãy xả bỏ kiêu căng;
Vượt qua mọi kiết sử,
Chẳng để chúng buộc ràng.

Không dính mắc danh sắc,
Chẳng sở hữu trong tâm;
Bao khổ đau luân chuyển,
Chẳng lập lại xoay vần

Đã lìa mọi toan tính,
Chẳng dựng lập ngã mạn;
Ái nơi danh cùng sắc,
Đã cắt sạch hoàn toàn.

Người đoạn mọi dây buộc,
Hết ưu não, mong cầu;
Trong các cõi nhân, thiên
Chẳng tìm kiếm nơi nào;

Đời này hay đời khác,
Hay thiên giới cao xa,
Trong tất cả trú xứ,
Chẳng sở chấp “cái ta”

Tôn giả Mogharāja thưa:

“Nếu chư thiên, nhân loại
không thấy bậc giải thoát
Đời nẩy và đời sau,
Thì những người kính lễ —
Tối tôn giữa loài người,
vì lợi lạc quần sanh —
có đáng được tán thán?”

Đức Thế Tôn đáp:

Hỡi Mogharāja,
Tỳ khưu biết kính lễ
Những bậc đã thoát ly,
Cũng đáng được tán thán,
Nhưng hiểu Pháp, dứt nghi,
Mới vượt dây trói buộc.

Chú Thích

Kinh tụng thuộc Tương Ưng Chư Thiên (Devatāsaṃyutta), Phẩm Satullapa (Satullapakāyikavagga), kinh văn số 34. Bối cảnh diễn ra tại tịnh xá Kỳ-viên (Jetavana), khu vườn của triệu phú Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) ở thành Xá-vệ (Sāvatthī). Trong đêm khuya thanh vắng, chư thiên nhóm Satullapa hiện đến đảnh lễ Thế Tôn, xướng kệ về tính vô thường của dục lạc và sự trói buộc của cõi chết; Đức Phật cùng Tôn giả Mogharājā (Mục-hạp-la) tiếp nối khai thị bản chất thật của dục và cứu cánh giải thoát tối hậu của bậc Vô Học.

Satullapakāyikā devatāyo: Chư thiên nhóm Satullapa. Chữ satullapa có nghĩa là "những vị tán thán người thiện" hay "nói lời hoan hỷ, chánh đáng". Đây là nhóm chư thiên thường xuyên xuất hiện vào đêm khuya để vấn đáp kệ tụng về giới hạnh, bố thí và giải thoát.

Kāmā (Dục): Thường được phân làm hai loại:

Vatthukāma (dục cảnh/dục sở duyên): Những đối tượng khả ái, khả hỷ bên ngoài như sắc, thanh, hương, vị, xúc muôn màu muôn vẻ (citrāni loke).

Kilesakāma (dục phiền não): Lòng tham muốn, dính mắc bên trong tâm thức. Đức Phật nhấn mạnh: Cảnh vật không có lỗi, lỗi nằm ở saṅkapparāgo (sự đam mê do tầm tứ, suy tưởng sai lệch).

Saṅkapparāgo: Ái dục khởi lên do suy tầm bất chánh. Bậc trí không cần phải hủy diệt trần cảnh hữu hình mà chỉ cần "nhiếp phục dục ái" (vinayanti chandaṃ).

Maccudheyya: Lãnh địa của Thần Chết (Ma vương), tức vòng luân hồi sinh tử khổ ải (saṃsāra).

Akiñcana: Không có vật sở hữu, không có bất kỳ thứ gì gọi là "của ta", tâm hoàn toàn rỗng rang không dính mắc chấp thủ.

Pahāsi saṅkhaṃ: Đoạn trừ khái niệm, chế định (paññatti), không còn chấp vào các ý niệm phân biệt "ta", "người", "họ tên", "dòng dõi".

Na vimānamajjhagā (hoặc biến thể na ca mānamajjhagā): Không đi vào sự kiêu mạn, không rơi vào sự so đo cao thấp hơn thua.

Pariyesamānā nājjhagamuṃ: Tìm kiếm mà không thể thấy được. Khi bậc A-la-hán nhập Vô dư Niết-bàn, thức không còn nơi nương gá (anpatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ), nên dẫu Ma vương hay chư thiên có thần thông quảng đại cũng không thể truy tìm tung tích tái sanh của vị ấy.

Mogharājā: Tôn giả Mục-hạp-la, một trong 16 vị đệ tử xuất sắc của đạo sĩ Bāvarī, sau này đắc quả A-la-hán khi nghe Đức Phật thuyết kinh Mogharājamāṇavapucchā (trong Phẩm Qua Bờ Bên Kia - Sutta Nipāta).

SN 1.34 — NATTHI SUTTA

Ý nghĩa bài kệ của vị thiên thứ nhất: “Giữa loài người, không có những dục lạc nào thường còn; ở đây chỉ có những sự vật khả ái. Khi một người bị trói buộc vào những thứ ấy, sống phóng dật giữa chúng, người ấy không thể từ cảnh giới của Tử thần đạt đến trạng thái không còn trở lại.”

Vị thiên nhận thấy một sự thật quan trọng: mọi dục lạc đều vô thường. Những gì con người yêu thích chỉ là những đối tượng khả ái, không có thứ khoái lạc nào có thể được sở hữu vĩnh viễn.

Nhưng câu kệ vẫn còn một điểm cần được Đức Phật làm sáng tỏ: “dục” thực sự nằm ở đối tượng hay nằm trong tâm chúng sanh?

Ý nghĩa kệ ngôn vị thiên thứ hai: “Đau khổ sinh từ dục; hệ luỵ sinh từ dục. Do đoạn trừ dục, khốn khổ được đoạn trừ; do hệ luỵ được đoạn trừ, đau khổ cũng được đoạn trừ.”

Ý nghĩa trong lời Đức Thế Tôn dạy: “Những cảnh đẹp của thế gian không phải là dục. Dục của con người chính là khởi niệm tham ái. Những cảnh đẹp vẫn cứ tồn tại như thế trong đời, nhưng người trí đoạn trừ lòng ham muốn đối với chúng.” Đây là câu kệ quan trọng của bài kinh. Đức Phật chuyển trọng tâm từ đối tượng bên ngoài trở về tâm nội tại.

Một sắc đẹp tự nó không phải dục. Một âm thanh êm dịu tự nó không phải dục. Một hương thơm, vị ngon hay xúc chạm dễ chịu tự nó không phải dục. Điều biến chúng thành kāma – dục trong kinh nghiệm của con người chính là  aṅkapparāga — ý hướng tham ái, sự say đắm do tâm hướng đến đối tượng.

Do đó, con đường thoát dục không nhất thiết có nghĩa là phải làm cho những cảnh đẹp của thế gian biến mất. Cảnh vẫn là cảnh. Nhưng tâm không còn bị cảnh trói buộc.

 

Đức Thế Tôn tiếp tục: “Người ta nên từ bỏ sân hận, loại bỏ ngã mạn, vượt qua mọi kiết sử. Khổ đau không hành hạ người không còn chấp ngã sở, người không còn bám víu vào danh và sắc.”

Ở đây tiến trình giải thoát được mở rộng. Không chỉ dục phải được đoạn trừ mà cả sân và mạn cũng phải được buông bỏ. “Danh-sắc” (nāma-rūpa) là toàn bộ cấu trúc kinh nghiệm tâm-vật lý mà con người thường chấp lấy bằng những ý niệm: “đây là tôi”, “đây là của tôi”, “đây là tự ngã của tôi”. Khi không còn bám chấp vào danh-sắc, khổ không còn nơi để nương tựa mà hành hạ.

“Vị ấy đã từ bỏ mọi sự tính toán, quy kết, không còn dựng lập ngã mạn. Ngay tại đây, vị ấy đã cắt đứt ái đối với danh và sắc. Dù chư thiên và loài người tìm kiếm vị ấy ở đây hay đời sau, trên các cõi trời hay trong mọi trú xứ, họ cũng không tìm thấy người đã cắt đứt mọi nút thắt, không còn phiền não, không còn khát ái.”

“Không tìm thấy” không nên hiểu đơn giản là vị giải thoát đã đi đến một nơi bí mật nào đó. Ý sâu hơn là những phạm trù mà thế gian dùng để xác định, nắm bắt và quy định một hữu tình không còn thích hợp để nắm bắt bậc đã hoàn toàn giải thoát. Khi ái đã đoạn, những “nút thắt” tạo nên sự tiếp nối của chấp thủ và hữu cũng được tháo mở.

Tôn giả Mogharāja hỏi:

“Nếu chư thiên và loài người không thể thấy vị đã giải thoát như vậy
ở đây hay ở đời sau, thì những người kính lễ vị ấy — bậc tối thắng giữa loài người,
người sống vì lợi ích của nhân loại — có đáng được tán thán hay không?”

Đức Thế Tôn trả lời:

“Này Mogharāja, những Tỳ khưu kính lễ vị đã giải thoát như vậy
cũng đáng được tán thán. Nhưng sau khi biết Pháp và đoạn trừ nghi hoặc,
những Tỳ khưu ấy còn trở thành những người vượt qua mọi sự trói buộc.”

Sớ Giải

34. catutthe kamanīyānīti rūpādīni iṭṭhārammaṇāni. apunāgamanaṃ anāgantā puriso maccudheyyāti tebhūmakavaṭṭasaṅkhātā maccudheyyā apunāgamanasaṅkhātaṃ nibbānaṃ anāgantā. nibbānañhi sattā na punāgacchanti, tasmā taṃ apunāgamananti vuccati. taṃ kāmesu baddho ca pamatto ca anāgantā nāma hoti, so taṃ pāpuṇituṃ na sakkoti, tasmā evamāha. chandajanti taṇhāchandato jātaṃ.
aghanti pañcakkhandhadukkhaṃ. dutiyapadaṃ tasseva vevacanaṃ. chandavinayā aghavinayoti taṇhāvinayena pañcakkhandhavinayo. aghavinayā dukkhavinayoti pañcakkhandhavinayena vaṭṭadukkhaṃ vinītameva hoti. citrānīti ārammaṇacittāni. saṅkapparāgoti saṅkappitarāgo. evamettha vatthukāmaṃ paṭikkhipitvā kilesakāmo kāmoti vutto. ayaṃ panattho pasūrasuttena (su. ni. 830 ādayo) vibhāvetabbo. pasūraparibbājako hi therena “saṅkapparāgo purisassa kāmo”ti vutte —
 “na te kāmā yāni citrāni loke,

 saṅkapparāgañca vadesi kāmaṃ.
 saṅkappayaṃ akusale vitakke,
 bhikkhūpi te hehinti kāmabhogī”ti. —
 āha. atha naṃ thero avoca —
 “te ce kāmā yāni citrāni loke,
 saṅkapparāgaṃ na vadesi kāmaṃ.
 passanto rūpāni manoramāni,
 satthāpi te hehiti kāmabhogī.
 suṇanto saddāni, ghāyanto gandhāni.
 sāyanto rasāni, phusanto phassāni manoramāni.
 satthāpi te hehiti kāmabhogī”ti.

 athettha dhīrāti atha etesu ārammaṇesu paṇḍitā chandarāgaṃ vinayanti. saṃyojanaṃ sabbanti dasavidhampi saṃyojanaṃ. akiñcananti rāgakiñcanādivirahitaṃ. nānupatanti dukkhāti vaṭṭadukkhā pana tassa upari na patanti. iccāyasmā mogharājāti, “pahāsi saṅkhan”ti gāthaṃ sutvā tassaṃ parisati anusandhikusalo mogharājā nāma thero “imissā gāthāya attho na yathānusandhiṃ gato”ti cintetvā yathānusandhiṃ ghaṭento evamāha. tattha idha vā huraṃ vāti idhaloke vā paraloke vā. naruttamaṃ atthacaraṃ narānanti kiñcāpi sabbe khīṇāsavā naruttamā ceva atthacarā ca narānaṃ, thero pana dasabalaṃ sandhāyevamāha. ye taṃ namassanti pasaṃsiyā teti yadi tathāvimuttaṃ devamanussā namassanti, atha ye taṃ bhagavantaṃ kāyena vā vācāya vā anupaṭipattiyā vā namassanti, te kiṃ pasaṃsiyā, udāhu apasaṃsiyāti. bhikkhūti mogharājattheraṃ ālapati. aññāya dhammanti catusaccadhammaṃ jānitvā. saṅgātigā tepi bhavantīti ye taṃ kāyena vā vācāya vā anupaṭipattiyā vā namassanti. te catusaccadhammaṃ aññāya vicikicchaṃ pahāya saṅgātigāpi honti, pasaṃsiyāpi hontīti. catutthaṃ.

34. Trong bài kinh thứ tư (của phẩm):

Kamanīyāni (những điều khả ái): tức là các đối tượng khả ái, khả hỷ như sắc trần khả ái (iṭṭhārammaṇāni).

Apunāgamanaṃ anāgantā puriso maccudheyyā: Nghĩa là từ cõi chết tức vòng luân hồi tam giới (tebhūmakavaṭṭasaṅkhātā maccudheyyā), con người không thể đi đến trạng thái "không trở lại" tức là Niết-bàn (apunāgamanasaṅkhātaṃ nibbānaṃ). Chúng sanh một khi đã đến Niết-bàn thì không còn trở lại vòng sinh tử luân hồi nữa, vì thế Niết-bàn được gọi là Apunāgamana (Không trở lại). Người nào bị trói buộc và buông lung trong các dục cảnh thì được gọi là "kẻ không đến được" nơi ấy, vì kẻ đó không có khả năng chứng đắc Niết-bàn; do vậy vị thiên mới nói như thế.

Chandajaṃ: Sanh khởi từ khát ái dục vọng (taṇhāchandato jātaṃ).

Aghaṃ: Nghĩa là sự khổ của năm uẩn (pañcakkhandhadukkhaṃ). Từ ngữ tiếp theo (dukkhaṃ) là đồng nghĩa của từ này.

Chandavinayā aghavinayo: Do nhiếp phục được khát ái (taṇhā) mà nhiếp phục được năm uẩn (pañcakkhandha).

Aghavinayā dukkhavinayo: Do việc đoạn trừ được năm uẩn mà sự đau khổ của vòng luân hồi (vaṭṭadukkha) được đoạn dứt hoàn toàn.

Citrāni: Những đối tượng trần cảnh đa dạng, sai biệt và tươi đẹp (ārammaṇacittāni).

Saṅkapparāgo: Sự đam mê khát ái được tạo tác từ những toan tính, suy tưởng sai biệt (saṅkappitarāgo). Như vậy, tại đây đã phủ nhận rằng dục cảnh bên ngoài (vatthukāma) là dục, mà khẳng định rằng dục phiền não bên trong (kilesakāma) mới thực sự là dục.

Ý nghĩa sâu sắc này cần được làm sáng tỏ thông qua Kinh Pasūra (Pasūrasutta - Sutta Nipāta 830 trở đi). Khi Trưởng lão nói với du sĩ ngoại đạo Pasūra rằng: “Chính sự tham ái do suy tưởng mới là dục của người”, Pasūra liền bắt bẻ:

“Nếu các cảnh vật muôn màu muôn vẻ nơi thế gian không phải là dục,

mà ông lại bảo rằng dục chính là sự tham ái do suy tưởng;

vậy khi dấy khởi những tư duy bất thiện,

thì ngay cả các vị Tỳ-khưu của ông cũng là những kẻ thọ hưởng dục lạc rồi!”

Khi ấy Trưởng lão bèn đối đáp lại:

“Nếu những cảnh sắc muôn màu nơi trần thế chính là dục,

và ông không chấp nhận rằng tham ái do suy tưởng mới là dục;

thì khi nhìn thấy những sắc tướng tuyệt mỹ vừa lòng,

bậc Đạo Sư của ông cũng sẽ trở thành kẻ thọ hưởng dục lạc!

Khi nghe những âm thanh, ngửi những mùi hương,

nếm những vị ngon, xúc chạm những cảm xúc êm ái vừa lòng,

thì bậc Đạo Sư của ông cũng phải là kẻ đắm chìm trong dục lạc!”

Athettha dhīrā: Do vậy, đối với những trần cảnh ấy, các bậc hiền trí điều phục, đoạn trừ dục tham (chandarāga).

Saṃyojanaṃ sabbaṃ: Tất cả mười loại kiết sử trói buộc.

Akiñcanaṃ: Không còn bất kỳ sự nhơ bẩn, chướng ngại nào như tham kiết, sân kiết (rāgakiñcana...).

Nānupatanti dukkhā: Những nỗi khổ của vòng luân hồi (vaṭṭadukkhā) không thể trút xuống hay đuổi theo bậc ấy được nữa.

Iccāyasmā mogharājā: Nghe xong bài kệ "Pahāsi saṅkhaṃ...", Tôn giả Mogharājā — bậc khéo thấu suốt sự nối kết giữa các mạch kệ ngữ (anusandhikusalo) có mặt trong hội chúng — suy nghĩ: "Ý nghĩa của bài kệ này vẫn chưa được đẩy đến tột cùng kết luận tương ứng", nên đã khéo kết nối tiếp mạch giáo pháp mà nói lên bài kệ ấy.

Idha vā huraṃ vā: Tại cõi đời này hay tại cõi đời khác (đời sau).

Naruttamaṃ atthacaraṃ narānaṃ: Dầu cho tất cả các bậc Lậu Tận (A-la-hán) đều là bậc tối thượng giữa loài người và luôn đem lại lợi ích cho nhân loại, nhưng ở đây Trưởng lão nói câu này với chủ ý quy hướng về Đấng Thập Lực (Đức Thế Tôn).

Ye taṃ namassanti pasaṃsiyā te: Nghĩa là: Nếu hàng chư thiên và nhân loại đảnh lễ bậc giải thoát chân thật như thế, thì những ai dùng thân, khẩu hoặc bằng sự thực hành đúng Chánh pháp (anupaṭipatti) để đảnh lễ Đức Thế Tôn, những người ấy có đáng được tán thán hay không?

Bhikkhū: Đức Thế Tôn cất tiếng gọi Tôn giả Trưởng lão Mogharājā.

Aññāya dhammaṃ: Sau khi đã thấu triệt Chánh pháp Tứ Thánh Đế (catusaccadhamma).

Saṅgātigā tepi bhavanti: Những ai đảnh lễ Thế Tôn bằng thân, khẩu và sự thực hành Chánh pháp; nhờ thấu suốt Tứ Thánh Đế, dứt trừ hoài nghi (vicikicchā), những vị Tỳ-khưu ấy cũng vượt qua mọi sợi dây trói buộc (saṅgātigā), và họ thật sự là những người xứng đáng được tán thán (pasaṃsiyā).

(Hết phần Sớ giải Kinh thứ tư)

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

IV. Phẩm Quần Tiên

IV. Không Có (S.i,22)

Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika.

Rồi nhiều vị Thiên thuộc nhóm Satullapa, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Jetavana, đi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.

Đứng một bên, một vị Thiên đọc bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

(Vị Thiên):

Không dục thường giữa người,

Khả ái trói buộc đây,

Phóng dật giữa dục ấy,

Ắt đến cõi chết lại.

(Vị Thiên thứ hai):

Dục sanh ách, sanh khổ,

Nhiếp dục, nhiếp được ách,

Nhiếp ách, nhiếp khổ đau.

(Thế Tôn):

Trần cảnh không phải dục,

Ý dục, dục của người,

Trần cảnh tự an trú,

Bậc trí trừ dục này.

Hãy bỏ sân, bỏ mạn,

Vượt qua mọi kiết sử,

Không dính mắc danh sắc,

Vô sở hữu, khổ dứt.

Bỏ tên, không kiêu mạn,

Chặt tham ái danh sắc,

Chặt trói, không khổ, tham,

Chư Thiên và loài Người,

Tìm vị ấy không thấy,

Ðời này hay đời sau,

Cả các cõi chư Thiên,

Cùng khắp các trú xứ.

(Tôn giả Mogharājā):

Nếu không thấy vị ấy,

Giải thoát chân thật vậy,

Chư Thiên và loài Người,

Ðời này hay đời sau,

Bậc tối thượng loài Người,

Làm việc lợi loài Người,

Ai đảnh lễ vị ấy,

Thật đáng được tán thán!

(Thế Tôn):

Thật đáng được tán thán,

Này Mogharājā!

Ai đảnh lễ vị ấy,

Bậc giải thoát chân thật.

Hiểu pháp, trừ nghi hoặc,

Họ vượt mọi trói buộc,

Các vị Tỷ-kheo ấy,

Thật đáng được tán thán!

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01