|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 23, tháng 09, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 034. CƯ TRẦN BẤT NHIỄM TRẦN - Kinh Không Có (Nasantisuttaṃ) .
Con người sinh ra giữa đời thường lầm tưởng rằng hạnh phúc nằm ở việc
chiếm hữu những đối tượng khả ái, khả hỷ bên ngoài. Nhưng chư Phật ba
đời đều chỉ rõ: chính ngọn lửa dục vọng (kāma) là gốc rễ của luân hồi
sinh tử. Dục lạc thế gian bản chất là vô thường, trôi nổi, biến đổi khôn
lường; kẻ đam mê chìm đắm trong đó tất yếu sẽ trở lại vòng cương tỏa của
Ma vương (maccudheyya).
Tuy nhiên, ngục tù thực sự không nằm ở cảnh vật hữu tình hay vô tình tươi
đẹp ngoài kia, mà nằm ngay trong sự say đắm, tầm cầu, ái chấp
(saṅkapparāgo). Bậc trí tuệ là người không trốn chạy cảnh trần mà điều
phục, nhiếp phục sự khát ái đối với sắc trần ấy. Khi dứt trừ sân hận,
ngã mạn, cởi bỏ hoàn toàn mọi kiết sử trói buộc, tâm không còn bám víu
vào danh sắc (nāmarūpa), hành giả bước vào cảnh giới tự tại thênh thang
của bậc Ứng Cúng. Bậc giải thoát ấy vượt qua mọi ngôn ngữ chế định,
không còn dấu vết để chư thiên hay nhân loại có thể tầm cầu, dò xét; và
chỉ riêng việc chiêm bái, đảnh lễ một bậc xuất trần thượng sĩ như thế
cũng đủ đem lại công đức giải thoát vô lượng cho hàng đệ tử biết đoạn
trừ nghi hoặc và hướng về nẻo chánh.
Kinh Văn
34.Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo
abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā
yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. Ekamantaṃ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike
imaṃ gāthaṃ abhāsi —
“Na santi kāmā manujesu niccā,
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của trưởng
giả Anāthapiṇḍika.
Khi đêm đã về khuya, nhiều vị thiên thuộc nhóm Satullapakāyika, với dung
sắc thù thắng, chiếu sáng toàn khu rừng Jetavana, đi đến Đức Thế Tôn.
Sau khi đến, các vị đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên.
Một vị thiên đứng sang một bên, nói lên bài kệ này trước Đức Thế Tôn:
Vị thiên thứ nhất
Dục giữa cõi nhân gian,
Ai mê say phóng dật,
Một vị thiên khác nói:
Khốn khổ từ dục sinh,
Đức Thế Tôn dạy:
Cảnh đẹp chẳng là dục,
Cảnh khả ái như vậy,
Hãy buông lòng sân hận,
Không dính mắc danh sắc,
Đã lìa mọi toan tính,
Người đoạn mọi dây buộc,
Đời này hay đời khác,
Tôn giả Mogharāja thưa:
“Nếu chư thiên, nhân loại
Đức Thế Tôn đáp:
Hỡi Mogharāja,
Chú Thích
Kinh tụng thuộc Tương Ưng Chư Thiên (Devatāsaṃyutta), Phẩm Satullapa
(Satullapakāyikavagga), kinh văn số 34. Bối cảnh diễn ra tại tịnh xá
Kỳ-viên (Jetavana), khu vườn của triệu phú Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) ở
thành Xá-vệ (Sāvatthī). Trong đêm khuya thanh vắng, chư thiên nhóm
Satullapa hiện đến đảnh lễ Thế Tôn, xướng kệ về tính vô thường của dục
lạc và sự trói buộc của cõi chết; Đức Phật cùng Tôn giả Mogharājā
(Mục-hạp-la) tiếp nối khai thị bản chất thật của dục và cứu cánh giải
thoát tối hậu của bậc Vô Học.
Satullapakāyikā devatāyo:
Chư thiên nhóm Satullapa. Chữ satullapa có nghĩa là "những vị tán thán
người thiện" hay "nói lời hoan hỷ, chánh đáng". Đây là nhóm chư thiên
thường xuyên xuất hiện vào đêm khuya để vấn đáp kệ tụng về giới hạnh, bố
thí và giải thoát.
Kāmā (Dục):
Thường được phân làm hai loại:
Vatthukāma (dục cảnh/dục sở duyên): Những đối tượng khả ái, khả hỷ bên
ngoài như sắc, thanh, hương, vị, xúc muôn màu muôn vẻ (citrāni loke).
Kilesakāma (dục phiền não): Lòng tham muốn, dính mắc bên trong tâm thức.
Đức Phật nhấn mạnh: Cảnh vật không có lỗi, lỗi nằm ở saṅkapparāgo (sự
đam mê do tầm tứ, suy tưởng sai lệch).
Saṅkapparāgo:
Ái dục khởi lên do suy tầm bất chánh. Bậc trí không cần phải hủy diệt trần
cảnh hữu hình mà chỉ cần "nhiếp phục dục ái" (vinayanti chandaṃ).
Maccudheyya: Lãnh địa của Thần Chết (Ma vương), tức vòng luân hồi sinh tử khổ ải
(saṃsāra).
Akiñcana:
Không có vật sở hữu, không có bất kỳ thứ gì gọi là "của ta", tâm hoàn toàn
rỗng rang không dính mắc chấp thủ.
Pahāsi saṅkhaṃ: Đoạn trừ khái niệm, chế định (paññatti), không còn chấp vào các ý niệm
phân biệt "ta", "người", "họ tên", "dòng dõi".
Na vimānamajjhagā
(hoặc biến thể na ca mānamajjhagā): Không đi vào sự kiêu mạn, không rơi
vào sự so đo cao thấp hơn thua.
Pariyesamānā nājjhagamuṃ:
Tìm kiếm mà không thể thấy được. Khi bậc A-la-hán nhập Vô dư Niết-bàn,
thức không còn nơi nương gá (anpatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ), nên dẫu Ma vương
hay chư thiên có thần thông quảng đại cũng không thể truy tìm tung tích
tái sanh của vị ấy.
Mogharājā:
Tôn giả Mục-hạp-la, một trong 16 vị đệ tử xuất sắc của đạo sĩ Bāvarī, sau
này đắc quả A-la-hán khi nghe Đức Phật thuyết kinh Mogharājamāṇavapucchā
(trong Phẩm Qua Bờ Bên Kia - Sutta Nipāta).
SN 1.34 — NATTHI SUTTA
Ý nghĩa bài kệ của vị thiên thứ nhất: “Giữa loài người, không có những dục
lạc nào thường còn; ở đây chỉ có những sự vật khả ái. Khi một người bị
trói buộc vào những thứ ấy, sống phóng dật giữa chúng, người ấy không
thể từ cảnh giới của Tử thần đạt đến trạng thái không còn trở lại.”
Vị thiên nhận thấy một sự thật quan trọng: mọi dục lạc đều vô thường.
Những gì con người yêu thích chỉ là những đối tượng khả ái, không có thứ
khoái lạc nào có thể được sở hữu vĩnh viễn.
Nhưng câu kệ vẫn còn một điểm cần được Đức Phật làm sáng tỏ: “dục” thực sự nằm ở
đối tượng hay nằm trong tâm chúng sanh?
Ý nghĩa kệ ngôn vị thiên thứ hai: “Đau khổ sinh từ dục; hệ luỵ sinh từ
dục. Do đoạn trừ dục, khốn khổ được đoạn trừ; do hệ luỵ được đoạn trừ,
đau khổ cũng được đoạn trừ.”
Ý nghĩa trong lời Đức Thế Tôn dạy: “Những cảnh đẹp của thế gian không phải
là dục. Dục của con người chính là khởi niệm tham ái. Những cảnh đẹp vẫn
cứ tồn tại như thế trong đời, nhưng người trí đoạn trừ lòng ham muốn đối
với chúng.” Đây là câu kệ quan trọng của bài kinh. Đức Phật chuyển trọng
tâm từ đối tượng bên ngoài trở về tâm nội tại.
Một sắc đẹp tự nó không phải dục. Một âm thanh êm dịu tự nó không phải
dục. Một hương thơm, vị ngon hay xúc chạm dễ chịu tự nó không phải dục.
Điều biến chúng thành kāma – dục trong kinh nghiệm của con người chính
là aṅkapparāga — ý hướng tham ái,
sự say đắm do tâm hướng đến đối tượng.
Do đó, con đường thoát dục không nhất thiết có nghĩa là phải làm cho những
cảnh đẹp của thế gian biến mất. Cảnh vẫn là cảnh. Nhưng tâm không còn bị
cảnh trói buộc.
Đức Thế Tôn tiếp tục: “Người ta nên từ bỏ sân hận, loại bỏ ngã mạn, vượt
qua mọi kiết sử. Khổ đau không hành hạ người không còn chấp ngã sở,
người không còn bám víu vào danh và sắc.”
Ở đây tiến trình giải thoát được mở rộng. Không chỉ
dục phải được
đoạn trừ mà cả
sân và mạn cũng phải được buông bỏ. “Danh-sắc” (nāma-rūpa)
là toàn bộ cấu trúc kinh nghiệm tâm-vật lý mà con người thường chấp lấy
bằng những ý niệm:
“đây là tôi”, “đây là của tôi”, “đây là tự ngã của tôi”. Khi
không còn bám chấp vào danh-sắc, khổ không còn nơi để nương tựa mà hành
hạ.
“Vị ấy đã từ bỏ mọi sự tính toán, quy kết, không còn dựng lập ngã mạn.
Ngay tại đây, vị ấy đã cắt đứt ái đối với danh và sắc. Dù chư thiên và
loài người tìm kiếm vị ấy ở đây hay đời sau, trên các cõi trời hay trong
mọi trú xứ, họ cũng không tìm thấy người đã cắt đứt mọi nút thắt, không
còn phiền não, không còn khát ái.”
“Không tìm thấy” không nên hiểu đơn giản là vị giải thoát đã đi đến một
nơi bí mật nào đó. Ý sâu hơn là những phạm trù mà thế gian dùng để xác
định, nắm bắt và quy định một hữu tình không còn thích hợp để nắm bắt
bậc đã hoàn toàn giải thoát. Khi ái đã đoạn, những “nút thắt” tạo nên sự
tiếp nối của chấp thủ và hữu cũng được tháo mở.
Tôn giả Mogharāja hỏi:
“Nếu chư thiên và loài người không thể thấy vị đã giải thoát như vậy
Đức Thế Tôn trả lời:
“Này Mogharāja, những Tỳ khưu kính lễ vị đã giải thoát như vậy
Sớ Giải
34. catutthe kamanīyānīti rūpādīni iṭṭhārammaṇāni. apunāgamanaṃ
anāgantā puriso maccudheyyāti tebhūmakavaṭṭasaṅkhātā maccudheyyā
apunāgamanasaṅkhātaṃ nibbānaṃ anāgantā. nibbānañhi sattā na
punāgacchanti, tasmā taṃ apunāgamananti vuccati. taṃ kāmesu baddho ca
pamatto ca anāgantā nāma hoti, so taṃ pāpuṇituṃ na sakkoti, tasmā
evamāha. chandajanti taṇhāchandato jātaṃ.
saṅkapparāgañca vadesi kāmaṃ.
athettha dhīrāti atha etesu
ārammaṇesu paṇḍitā chandarāgaṃ vinayanti. saṃyojanaṃ sabbanti
dasavidhampi saṃyojanaṃ. akiñcananti rāgakiñcanādivirahitaṃ. nānupatanti
dukkhāti vaṭṭadukkhā pana tassa upari na patanti. iccāyasmā mogharājāti,
“pahāsi saṅkhan”ti gāthaṃ sutvā tassaṃ parisati anusandhikusalo
mogharājā nāma thero “imissā gāthāya attho na yathānusandhiṃ gato”ti
cintetvā yathānusandhiṃ ghaṭento evamāha. tattha idha vā huraṃ vāti
idhaloke vā paraloke vā. naruttamaṃ atthacaraṃ narānanti kiñcāpi sabbe
khīṇāsavā naruttamā ceva atthacarā ca narānaṃ, thero pana dasabalaṃ
sandhāyevamāha. ye taṃ namassanti pasaṃsiyā teti yadi tathāvimuttaṃ
devamanussā namassanti, atha ye taṃ bhagavantaṃ kāyena vā vācāya vā
anupaṭipattiyā vā namassanti, te kiṃ pasaṃsiyā, udāhu apasaṃsiyāti.
bhikkhūti mogharājattheraṃ ālapati. aññāya dhammanti catusaccadhammaṃ
jānitvā. saṅgātigā tepi bhavantīti ye taṃ kāyena vā vācāya vā
anupaṭipattiyā vā namassanti. te catusaccadhammaṃ aññāya vicikicchaṃ
pahāya saṅgātigāpi honti, pasaṃsiyāpi hontīti. catutthaṃ. 34. Trong bài kinh thứ tư (của phẩm):
Kamanīyāni
(những điều khả ái): tức
là các đối tượng khả ái, khả hỷ như sắc trần khả ái (iṭṭhārammaṇāni).
Apunāgamanaṃ anāgantā puriso maccudheyyā:
Nghĩa là từ cõi chết tức vòng luân hồi tam giới (tebhūmakavaṭṭasaṅkhātā
maccudheyyā), con người không thể đi đến trạng thái "không trở lại"
tức là Niết-bàn (apunāgamanasaṅkhātaṃ nibbānaṃ). Chúng sanh một
khi đã đến Niết-bàn thì không còn trở lại vòng sinh tử luân hồi nữa, vì
thế Niết-bàn được gọi là Apunāgamana (Không trở lại). Người nào
bị trói buộc và buông lung trong các dục cảnh thì được gọi là "kẻ không
đến được" nơi ấy, vì kẻ đó không có khả năng chứng đắc Niết-bàn; do vậy
vị thiên mới nói như thế.
Chandajaṃ:
Sanh khởi từ khát ái dục
vọng (taṇhāchandato jātaṃ).
Aghaṃ:
Nghĩa là sự khổ của năm
uẩn (pañcakkhandhadukkhaṃ). Từ ngữ tiếp theo (dukkhaṃ) là
đồng nghĩa của từ này.
Chandavinayā aghavinayo:
Do nhiếp phục được khát
ái (taṇhā) mà nhiếp phục được năm uẩn (pañcakkhandha).
Aghavinayā dukkhavinayo:
Do việc đoạn trừ được
năm uẩn mà sự đau khổ của vòng luân hồi (vaṭṭadukkha) được đoạn
dứt hoàn toàn.
Citrāni:
Những đối tượng trần
cảnh đa dạng, sai biệt và tươi đẹp (ārammaṇacittāni).
Saṅkapparāgo:
Sự đam mê khát ái được
tạo tác từ những toan tính, suy tưởng sai biệt (saṅkappitarāgo).
Như vậy, tại đây đã phủ nhận rằng dục cảnh bên ngoài (vatthukāma)
là dục, mà khẳng định rằng dục phiền não bên trong (kilesakāma)
mới thực sự là dục. Ý nghĩa sâu sắc này cần được làm sáng tỏ thông qua
Kinh Pasūra (Pasūrasutta
- Sutta Nipāta 830 trở đi). Khi Trưởng lão nói với du sĩ ngoại đạo
Pasūra rằng: “Chính sự tham ái do suy tưởng mới là dục của người”,
Pasūra liền bắt bẻ: “Nếu các cảnh vật muôn màu muôn vẻ nơi thế gian không phải là
dục, mà ông lại bảo rằng dục chính là sự tham ái do suy tưởng; vậy khi dấy khởi những tư duy bất thiện, thì ngay cả các vị Tỳ-khưu của ông cũng là những kẻ thọ hưởng
dục lạc rồi!” Khi ấy Trưởng lão bèn đối đáp lại: “Nếu những cảnh sắc muôn màu nơi trần thế chính là dục, và ông không chấp nhận rằng tham ái do suy tưởng mới là dục; thì khi nhìn thấy những sắc tướng tuyệt mỹ vừa lòng, bậc Đạo Sư của ông cũng sẽ trở thành kẻ thọ hưởng dục lạc! Khi nghe những âm thanh, ngửi những mùi hương, nếm những vị ngon, xúc chạm những cảm xúc êm ái vừa lòng, thì bậc Đạo Sư của ông cũng phải là kẻ đắm chìm trong dục
lạc!”
Athettha dhīrā: Do vậy, đối với những trần cảnh ấy, các bậc hiền trí điều phục, đoạn trừ
dục tham (chandarāga).
Saṃyojanaṃ sabbaṃ:
Tất cả mười loại kiết sử
trói buộc.
Akiñcanaṃ:
Không còn bất kỳ sự nhơ
bẩn, chướng ngại nào như tham kiết, sân kiết (rāgakiñcana...).
Nānupatanti dukkhā:
Những nỗi khổ của vòng
luân hồi (vaṭṭadukkhā) không thể trút xuống hay đuổi theo bậc ấy
được nữa.
Iccāyasmā mogharājā:
Nghe xong bài kệ
"Pahāsi saṅkhaṃ...", Tôn giả Mogharājā — bậc khéo thấu suốt sự nối
kết giữa các mạch kệ ngữ (anusandhikusalo) có mặt trong hội chúng
— suy nghĩ: "Ý nghĩa của bài kệ này vẫn chưa được đẩy đến tột cùng
kết luận tương ứng", nên đã khéo kết nối tiếp mạch giáo pháp mà nói
lên bài kệ ấy.
Idha vā huraṃ vā:
Tại cõi đời này hay tại
cõi đời khác (đời sau).
Naruttamaṃ atthacaraṃ narānaṃ: Dầu cho tất cả các bậc Lậu Tận (A-la-hán) đều là bậc
tối thượng giữa loài người và luôn đem lại lợi ích cho nhân loại, nhưng
ở đây Trưởng lão nói câu này với chủ ý quy hướng về Đấng Thập Lực (Đức
Thế Tôn).
Ye taṃ namassanti pasaṃsiyā te: Nghĩa là: Nếu hàng chư thiên và nhân loại đảnh lễ bậc
giải thoát chân thật như thế, thì những ai dùng thân, khẩu hoặc bằng sự
thực hành đúng Chánh pháp (anupaṭipatti) để đảnh lễ Đức Thế Tôn,
những người ấy có đáng được tán thán hay không?
Bhikkhū:
Đức Thế Tôn cất tiếng
gọi Tôn giả Trưởng lão Mogharājā.
Aññāya dhammaṃ:
Sau khi đã thấu triệt
Chánh pháp Tứ Thánh Đế (catusaccadhamma).
Saṅgātigā tepi bhavanti:
Những ai đảnh lễ Thế Tôn
bằng thân, khẩu và sự thực hành Chánh pháp; nhờ thấu suốt Tứ Thánh Đế,
dứt trừ hoài nghi (vicikicchā), những vị Tỳ-khưu ấy cũng vượt qua
mọi sợi dây trói buộc (saṅgātigā), và họ thật sự là những người
xứng đáng được tán thán (pasaṃsiyā). (Hết phần Sớ giải Kinh thứ tư)
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập I - Thiên Có Kệ
[01] Chương I
Tương Ưng Chư Thiên
IV. Phẩm Quần Tiên
IV. Không Có (S.i,22)
Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông
Anāthapiṇḍika.
Rồi nhiều vị Thiên thuộc nhóm Satullapa, khi đêm đã gần tàn, với
nhan sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Jetavana, đi đến đảnh lễ
Thế Tôn và đứng một bên.
Đứng một bên, một vị Thiên đọc bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
(Vị Thiên):
Không dục thường giữa người,
Khả ái trói buộc đây,
Phóng dật giữa dục ấy,
Ắt đến cõi chết lại.
(Vị Thiên thứ hai):
Dục sanh ách, sanh khổ,
Nhiếp dục, nhiếp được ách,
Nhiếp ách, nhiếp khổ đau.
(Thế Tôn):
Trần cảnh không phải dục,
Ý dục, dục của người,
Trần cảnh tự an trú,
Bậc trí trừ dục này.
Hãy bỏ sân, bỏ mạn,
Vượt qua mọi kiết sử,
Không dính mắc danh sắc,
Vô sở hữu, khổ dứt.
Bỏ tên, không kiêu mạn,
Chặt tham ái danh sắc,
Chặt trói, không khổ, tham,
Chư Thiên và loài Người,
Tìm vị ấy không thấy,
Ðời này hay đời sau,
Cả các cõi chư Thiên,
Cùng khắp các trú xứ.
(Tôn giả Mogharājā):
Nếu không thấy vị ấy,
Giải thoát chân thật vậy,
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Bậc tối thượng loài Người,
Làm việc lợi loài Người,
Ai đảnh lễ vị ấy,
Thật đáng được tán thán!
(Thế Tôn):
Thật đáng được tán thán,
Này Mogharājā!
Ai đảnh lễ vị ấy,
Bậc giải thoát chân thật.
Hiểu pháp, trừ nghi hoặc,
Họ vượt mọi trói buộc,
Các vị Tỷ-kheo ấy,
Thật đáng được tán thán!
Bài học lưu trữ Bài học lưu trữ năm 2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01 Bài học lưu trữ năm 2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01
Bài học lưu trữ năm
2024- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2023- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2022- |
|