|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 24, tháng 09, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 035. NỤ CƯỜI CỦA PHẬT - Kinh Hiềm Trách Thiên (Ujjhānasaññisutta) .
Thói thường của tâm phàm phu là tật bới lông tìm vết (ujjhānasaññā): mượn
những thước đo đạo đức khắt khe để săm soi và hạ bệ người khác. Nhóm chư
thiên này thấy Thế Tôn tán thán đời sống tri túc của chư Tăng nhưng bản
thân Ngài lại được hàng cư sĩ kính cẩn cúng dường sàng tọa, y áo và phẩm
vật thanh tịnh; họ liền vội vã kết luận rằng Ngài "nói một đàng làm một
nẻo", thậm chí so sánh sự thọ dụng ấy với sự lường gạt của kẻ cờ bạc
gian lận hay người giăng lưới bẫy chim.Đứng trước sự khiêu khích ngạo mạn lơ lửng trên không, Đức Thế Tôn không
đối đáp bằng sự phân trần hay giận dữ. Ngài chỉ ra trọng tâm của đạo lộ
giải thoát: sự thanh tịnh không nằm ở tài biện thuyết hay nghe hiểu từ
chương, mà nằm ở thiền quán (jhāna) và thắng trí (abhiññā) dứt sạch
luyến ái cuộc đời. Khi các vị thiên bàng hoàng sụp lạy xin sám hối, Đức Phật mỉm cười rất nhẹ
của bậc Chánh Đẳng Giác (sitapātukamma). Nhưng vì tâm họ vẫn còn nông
cạn, không hiểu được thực tướng cao tột của đấng Toàn Giác, họ lại nghi
ngờ nụ cười ấy là sự khinh miệt, cố chấp không tha thứ. Bằng tâm từ vô
hạn của bậc đã dứt sạch mọi tì vết và lầm lạc, Như Lai chỉ rõ bản tánh
của bậc Vô Thượng Sư và xua tan hiềm hận bằng tấm lòng dung thứ trọn
vẹn.
Kinh Văn
1. Evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati
Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sambahulā ujjhānasaññikā
devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ Jetavanaṃ
obhāsetvā yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā vehāsaṃ aṭṭhaṃsu.
(Dị bản: Na heva
bhāsitamattena, na ca sotaññatāya vā...)
3. Atha kho tā devatāyo pathaviyaṃ patiṭṭhahitvā Bhagavato pādesu
sirasā nipatitvā Bhagavantaṃ etadavocuṃ: “Accayo no, bhante, accagamā
yathābāle yathāmūḷhe yathāakusale, yā mayaṃ Bhagavantaṃ āsādetabbaṃ
amaññimha. Tāsaṃ no, bhante, Bhagavā accayaṃ accayato patiggaṇhātu
āyatiṃ saṃvarāyā”ti.
[112]Accayaṃ desayantīnaṃ,
Tôi được nghe như vầy,
Khi đêm đã khuya, có nhiều vị thiên mang tâm tìm lỗi, nhan sắc rực rỡ
chiếu sáng toàn cả Jetavana, đi đến Thế Tôn; đến nơi, họ đứng lơ lửng
giữa hư không.
[Vị thiên
khác:]
[Đức Thế
Tôn dạy:]
[Đức Thế
Tôn dạy:]
[Vị thiên
hỏi:]
[Đức Thế
Tôn dạy:]
Chú Thích
Ujjhānasaññino – “Những vị
hay bắt lỗi”
Theo Sớ giải Tương Ưng Bộ, không có một
cõi chư thiên riêng biệt nào mang tên Ujjhānasaññino – “những vị hay bắt
lỗi.” Đây là tên do các nhà kết tập kinh điển dùng để gọi nhóm chư thiên
này, bởi họ đến gặp Đức Phật với ý định tìm lỗi nơi Như Lai, đặc biệt về
cách Ngài sử dụng bốn món vật dụng (cattāro paccayā). Các vị thiên ấy
suy nghĩ đại ý: “Sa-môn
Gotama tán thán đời sống tri túc với những vật dụng đơn sơ cho các Tỳ
khưu, nhưng chính Ngài lại sống đầy đủ. Mỗi ngày Ngài thuyết Pháp cho
đông đảo quần chúng. Lời nói của Ngài đi một đường, việc làm lại đi một
đường khác.” Như vậy, vấn đề họ nêu ra không đơn thuần là chuyện giàu nghèo, mà là lời
cáo buộc về sự bất nhất giữa lời dạy và hành động. Chi tiết:
vehāsaṃ aṭṭhaṃsu – “họ đứng giữa hư không” cũng mang ý nghĩa
đặc biệt. Thay vì đáp xuống đất, đến gần và đảnh lễ Đức Phật theo cung
cách cung kính, họ vẫn đứng lơ lửng trên không trung để nói chuyện. Chú
giải xem đây là dấu hiệu cho thấy ngay từ đầu họ đã đến với thái độ
thiếu cung kính và có ý tìm lỗi. Điều này giúp ta hiểu tại sao kệ ngôn
khởi đầu bằng câu: “Nói một đằng nhưng sống một nẻo.”
Kitava – con bạc gian trá
hay người đánh bẫy chim.
Trong câu: Nikacca kitavasseva, từ kitava có một lịch sử ngữ nghĩa khá đặc biệt. Sớ giải chú thích kitava là: sākuṇika – người đánh bẫy chim, người săn
chim. Người đánh bẫy chim ẩn mình sau cành cây và lá cây để chim không nhìn
thấy. Khi chim vô tình đến gần, người ấy bắt hoặc giết chúng và dùng lợi
tức ấy để nuôi sống gia đình. Chú giải dùng hình ảnh này để giải thích
người đạo đức giả: Người ấy cũng “ẩn mình” sau chiếc y bá nạp, khoác bên ngoài hình ảnh của
một sa-môn, rồi dùng lời nói khéo léo để đánh lừa quần chúng. Nếu nhờ sự
giả tạo ấy mà nhận và sử dụng bốn vật dụng:
1.
cīvara – y phục;
2.
piṇḍapāta – thức ăn;
3.
senāsana – trú xứ;
4.
gilānapaccayabhesajja – thuốc men và
vật dụng trị bệnh, thì sự thọ dụng ấy được chú giải gọi là:
theyyaparibhoga – “thọ dụng
như kẻ trộm.” Điểm cần đặc biệt nhấn mạnh khi giảng bài là: Đây là lời cáo buộc của vị
thiên nhắm vào Đức Phật, chứ không phải lời của Sớ giải xác nhận rằng
Đức Phật hành xử như vậy. Cách giải thích kitava là “người bẫy chim”
cũng xuất hiện trong Dhammapada-aṭṭhakathā III 375, khi chú giải Pháp Cú
252. Tuy nhiên, ở Jātaka VI 228, kitava xuất hiện trong một ngữ cảnh khác và
được chú thích: akkhadhutta – kẻ mê cờ bạc, người chơi xúc xắc. Ngài Bodhi chọn dịch kitava ở SN 1.35 theo nghĩa “cheating gambler – con
bạc gian lận.” Vì vậy câu: Nikacca kitavasseva, có thể dịch: Như con bạc gian manh, Nhưng nếu theo cách giải của Chú giải: Như người săn giấu mặt, Hai cách hiểu không hoàn toàn mâu thuẫn. Điểm chung là sự che giấu con
người thật nhằm đạt được lợi ích bằng lừa dối. Tại sao Đức Phật mỉm cười? Sau khi các vị thiên nhận lỗi và thưa: “Xin Đức Thế Tôn chấp nhận lỗi ấy là lỗi của chúng con, để chúng con biết
phòng hộ trong tương lai.” Kinh không nói ngay rằng Đức Phật tha thứ.
Thay vào đó: Atha kho Bhagavā sitaṃ pātvākāsi. “Bấy giờ Đức Thế Tôn biểu lộ một nụ cười.” Tại sao? Theo Sớ giải, lời xin lỗi của các vị thiên lúc ấy vẫn chưa hoàn
toàn phù hợp với sabhāva – bản chất thật của Đức Phật. Họ vẫn đang ứng xử như thể không có sự khác biệt giữa: Tathāgata – Như
Lai, bậc tối thượng trong thế gian và puthujjana – phàm phu ở thế gian.
Nói cách khác, họ dường như nghĩ: “Chúng ta đã xúc phạm Ngài; có lẽ Ngài
đang giận. Bây giờ chúng ta xin lỗi để Ngài hết giận.” Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: Như Lai không có sân hận để phải “hết giận.” Theo Sớ giải, Đức Phật mỉm cười với ý nghĩ: “Khi cuộc đối thoại phát sinh
từ đây, Ta sẽ biểu thị năng lực của một vị Phật, rồi sau đó Ta sẽ chấp
nhận sự sám hối của họ.” Vì chưa hiểu nụ cười ấy, các vị thiên lại
ujjhāyanti – bắt lỗi thêm lần nữa. Họ cho rằng Đức Phật không chịu tha thứ nên thốt lời nói: Accayaṃ desayantīnaṃ, Người nào không chấp nhận Chính sự hiểu lầm lần thứ hai này mở đường cho phần giáo pháp sâu nhất của
bài kinh. Theo chú thích của Ngài Bodhi có vấn đề dị bản Pāli
Tenādha hay Kenīdha
– Một Câu kệ của Đức Phật có một điểm văn bản học đáng chú ý: Accayo ce na vijjetha, Các ấn bản Pāli không hoàn toàn thống nhất ở pāda cuối. Có ba dị bản chính: Bản Tích Lan: tenādha Ngài Bodhi theo bản Tích Lan, đọc là: tenādha thay vì kenīdha hay ko
nīdha. Một khó khăn nữa là cả Sớ giải lẫn Hậu Sớ Giải đều không cung cấp lời giải
thích đầy đủ giúp xác định chắc chắn ý nghĩa của toàn câu kệ. Riêng từ: kusala ở đây không nên vội hiểu theo nghĩa thông thường là
“thiện, khéo léo.” Bhikkhu Bodhi dựa theo cách chú giải của Hậu Sớ Giải:
anavajja – không đáng trách, không có lỗi, vô khuyết phạm. Do đó ý nghĩa tổng quát của bài kệ có thể hiểu: Nếu chẳng hề có lỗi, Câu này rất khó dịch sát vì chính bản Pāli có dị bản và Sớ giải cũng không
giải quyết dứt khoát vấn đề văn bản. Đáng chú ý hơn nữa, Ngài Bodhi cho biết bài kệ này đã bị bỏ sót trong bản
dịch Kindred Sayings (KS 1:35) của Pali Text Society Bài kinh diễn tiến qua một chuỗi tâm lý rất tinh tế:
1. Thành kiến:
2. Tìm lỗi – ujjhānasaññā:
3. Cáo buộc đạo đức giả:
4. Đức Phật đưa vấn đề trở
về thực hành:
5. Nhận lỗi – accaya:
6. Hiểu lầm lần thứ hai:
7. Đức Phật làm sáng tỏ bản
chất của Như Lai:
8. Chấm dứt oán hận:
Taṃ veraṃ nābhinandāmi, Ta không vui thích hiềm hận
Sớ Giải
Ujjhānasaññikāti randhagavesikā, paresaṃ vajjadassanatāya
uppannasaññā. Na hi koci ujjhānasaññikā nāma devaloko atthi. Imā pana
devatāyo catupaccayanibaddhaṃ Tathāgatassa vajjaṃ pariyesitukāmā āgatā:
"Samaṇo Gotamo bhikkhūnaṃ appicchakathampi katheti, attanā pana uḷāre
paribhoge paribhuñjati, divase divase ca mahājanassa dhammaṃ deseti,
aññathāssa vacanaṃ gacchati, aññathā kiriyā"ti.
Ujjhānasaññikā nghĩa là những kẻ rình rập tìm kẽ hở (randhagavesikā),
tâm luôn khởi lên ý muốn săm soi khiếm khuyết của người khác (paresaṃ
vajja-dassanatāya). Thật ra không hề có cõi trời nào mang tên "cõi
chư thiên tìm lỗi". Nhóm chư thiên này được gọi như vậy vì họ tìm đến
với ý đồ soi mói lỗi lầm của Như Lai quanh việc thọ dụng bốn món vật
dụng. Họ nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama thuyết pháp dạy các tỳ-khưu thiểu
dục, nhưng tự thân lại thọ dụng phẩm vật cao sang; ngày ngày thuyết pháp
cho đại chúng, lời nói đi một đường còn hành động đi một nẻo." Vehāsaṃ aṭṭhaṃsu (đứng giữa hư không): Hành động đứng
trên không trung này biểu thị rõ ràng sự bất kính, thiếu tôn trọng đối
với bậc Đạo Sư.
Kitenassāti kitavena assa. Yathā sākuṇiko sākhapalāsena attānaṃ
paṭicchādetvā upasaṅkamante sakuṇe māretvā dāradārakaṃ poseti; evameva
ayamapi vañcako paṃsukūlena attānaṃ paṭicchādetvā kalyāṇavācatāya
mahājanaṃ vañceti, kitavasseva kitavassa kattabbaṃ kataṃ hoti. Cattāro
paccaye theyyaparibhogena paribhuñjatīti Bhagavati imaṃ gāthaṃ bhaṇati.
Kitenassa: Giống như một kẻ bẫy chim (sākuṇika).
Như người đánh bẫy chim che giấu mình sau cành lá rậm rạp rồi sát hại
bầy chim bay đến để nuôi sống vợ con; cũng vậy, kẻ lường gạt này giấu
mình sau lớp áo vải vụn (phấn tảo), dùng lời đường mật gạt gẫm dân
chúng. Sự thọ nhận bốn món vật dụng ấy chẳng khác nào thọ dụng trộm cắp.
Vị thiên thốt ra câu kệ này là để ám chỉ Thế Tôn. (Theo Ja VI 228,19,
từ này còn được giải thích là kẻ cờ bạc gian lận).
Sitaṃ pātvākāsīti: Kasmā panassa sitaṃ pātvakāsi? Imā kira devatā
na Buddhānaṃ sabhāvena khamāpesuṃ, lokiyamanussānaṃ viyati amhākaṃ
lokajeṭṭhassa ca koci viseso natthi ti maññamānā. Bhagavato etadahosi:
"Iminā kira kāraṇena kathaṃ samuṭṭhāpetvā Buddhānubhāvaṃ dassetvā pacchā
khamissāmī"ti sitaṃ akāsi.
Sitaṃ
pātvākāsi (Vì sao Đức Thế Tôn lại mỉm cười?): Bởi vì chư thiên ấy xin sám hối mà
không hề nhận biết được tự tánh tôn quý phi phàm của chư Phật (sabhāva);
họ hành xử như thể chẳng có sự khác biệt nào giữa bậc Tối Thượng ở đời
với hạng người phàm tục thế gian. Khi ấy, Thế Tôn nghĩ rằng: "Nhân cơ
duyên này, Ta sẽ gợi mở cuộc đàm đạo để hiển lộ Phật lực uy đức, rồi sau
đó mới tha thứ cho họ." Chính vì ý nghĩ ấy mà Ngài mỉm cười. Taṃ veraṃ nābhinandāmīti: Mayhaṃ verasaṅkhāto
kopo natthi, tasmā tumhākaṃ taṃ accayaṃ paṭiggaṇhāmi.
Taṃ veraṃ nābhinandāmi: Ý nói "Nơi Ta hoàn toàn không có sự hiềm hận hay phẫn nộ. Do
đó, Ta tiếp nhận lỗi lầm ấy của các ngươi, Ta tha thứ cho các ngươi."(Hết
phần Sớ giải Kinh thứ tư)
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập I - Thiên Có Kệ
[01] Chương I
Tương Ưng Chư Thiên
IV. Phẩm Bầy Nghỉ
(Satullapakāyikavagga)
V. Bới Vết (S.i,23)
1.Như vầy tôi nghe.
2. Rồi một
vị Thiên đứng trên hư không, đọc bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
3.
Rồi các vị Thiên ấy hạ mình xuống đất,
cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
4.
Rồi Thế Tôn mỉm cười.
Bài học lưu trữ Bài học lưu trữ năm 2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01 Bài học lưu trữ năm 2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01
Bài học lưu trữ năm
2024- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2023- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2022- |
|