BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 24, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Quần Tiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.35
BÀI 035. NỤ CƯỜI CỦA PHẬT -

Kinh Hiềm Trách Thiên (Ujjhānasaññisutta) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-035.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngThói thường của tâm phàm phu là tật bới lông tìm vết (ujjhānasaññā): mượn những thước đo đạo đức khắt khe để săm soi và hạ bệ người khác. Nhóm chư thiên này thấy Thế Tôn tán thán đời sống tri túc của chư Tăng nhưng bản thân Ngài lại được hàng cư sĩ kính cẩn cúng dường sàng tọa, y áo và phẩm vật thanh tịnh; họ liền vội vã kết luận rằng Ngài "nói một đàng làm một nẻo", thậm chí so sánh sự thọ dụng ấy với sự lường gạt của kẻ cờ bạc gian lận hay người giăng lưới bẫy chim.

Đứng trước sự khiêu khích ngạo mạn lơ lửng trên không, Đức Thế Tôn không đối đáp bằng sự phân trần hay giận dữ. Ngài chỉ ra trọng tâm của đạo lộ giải thoát: sự thanh tịnh không nằm ở tài biện thuyết hay nghe hiểu từ chương, mà nằm ở thiền quán (jhāna) và thắng trí (abhiññā) dứt sạch luyến ái cuộc đời.

Khi các vị thiên bàng hoàng sụp lạy xin sám hối, Đức Phật mỉm cười rất nhẹ của bậc Chánh Đẳng Giác (sitapātukamma). Nhưng vì tâm họ vẫn còn nông cạn, không hiểu được thực tướng cao tột của đấng Toàn Giác, họ lại nghi ngờ nụ cười ấy là sự khinh miệt, cố chấp không tha thứ. Bằng tâm từ vô hạn của bậc đã dứt sạch mọi tì vết và lầm lạc, Như Lai chỉ rõ bản tánh của bậc Vô Thượng Sư và xua tan hiềm hận bằng tấm lòng dung thứ trọn vẹn.

Kinh Văn

1. Evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sambahulā ujjhānasaññikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ Jetavanaṃ obhāsetvā yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā vehāsaṃ aṭṭhaṃsu.
2. Atha kho ekā devatā vehāsaṃ ṭhitā Bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi:

[108]
Aññathā santamattānaṃ,
aññathā yo pakubbatī;
Kitenassa kataṃ hoti,
kitavasseva kitavā.
[109 — Ekā devatā:]
Yañhi kayirā tañhi vade,
yaṃ na kayirā na taṃ vade;
Akarontaṃ bhāsamānaṃ,
parijānanti paṇḍitā.
[110 — Bhagavā:]
Na heva vācāmattena,
sāvako hoti jhāyino;
Padakkhiṇaṃ padhānassa,
yaṃ katvā muccatī mare.

(Dị bản: Na heva bhāsitamattena, na ca sotaññatāya vā...)
[111]
Na hi santaṃ vikubbanti,
jānanto lokapariyāyaṃ;
Abhiññānibbūtā dhīrā,
tiṇṇā loke visattikan’ti.

3. Atha kho tā devatāyo pathaviyaṃ patiṭṭhahitvā Bhagavato pādesu sirasā nipatitvā Bhagavantaṃ etadavocuṃ: “Accayo no, bhante, accagamā yathābāle yathāmūḷhe yathāakusale, yā mayaṃ Bhagavantaṃ āsādetabbaṃ amaññimha. Tāsaṃ no, bhante, Bhagavā accayaṃ accayato patiggaṇhātu āyatiṃ saṃvarāyā”ti.
4. Atha kho Bhagavā sitaṃ pātvākāsi. Atha kho tā devatāyo bhiyyoso mattāya ujjhāyantiyo vehāsaṃ abbhuggantvā ekā devatā Bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi:

[112]Accayaṃ desayantīnaṃ,
yo ce na patigaṇhati;
Kodhano kodhagaruko,
veraṃ so pasavati daḷhaṃ.
[113 — Bhagavā:]
Accayo ce na vijjetha,
no cepi aparādhyatha;
Verañca vūpasameyya,
tenādha kusalo siyā.
[114 — Ekā devatā:]
Kassa natthi atikkanto,
kassa natthi aparādho;
Ko na sammohamāpādi,
kassa dhīrassa sadā sati.
[115 — Bhagavā:]
Tathāgatassa Buddhassa,
sabbabhūtānukampino;
Tassa natthi atikkanto,
tassa natthi aparādho;
So na sammohamāpādi,
tassa dhīrassa sadā sati.
[116]
Accayaṃ desayantīnaṃ,
yo ce na patigaṇhati;
Kodhano kodhagaruko,
veraṃ so pasavati daḷhaṃ;
Taṃ veraṃ nābhinandāmi,
accayaṃ patigaṇhāmīti.

Tôi được nghe như vầy,

Khi đêm đã khuya, có nhiều vị thiên mang tâm tìm lỗi, nhan sắc rực rỡ chiếu sáng toàn cả Jetavana, đi đến Thế Tôn; đến nơi, họ đứng lơ lửng giữa hư không.
Rồi một vị thiên đứng giữa không trung liền đọc bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Bản thân nói một đàng,
Nhưng lại làm lối khác;
Sự hưởng dụng trộm lén,
Như cờ gian bạc lận.

[Vị thiên khác:]
Làm sao hãy nói vậy,
Không làm chớ nói ra;
Nói mà không thực hành,
Bậc trí nhìn thấu suốt.

[Đức Thế Tôn dạy:]
Chẳng bởi lời nói suông,
Chẳng do nghe hiểu suông,
Mới tiến trên đường chánh,
Của bậc tu thiền định,
Nhờ kiên trì hành trì,
Mới thoát khỏi bẫy Ma.
Bậc chân nhân không dối,
Thấu rõ lẽ cõi đời;
Nhờ thắng trí tối hậu,
Dứt ái chấp thế gian.
Khi nghe lời ấy, các vị thiên liền hạ xuống mặt đất, cúi đầu đảnh lễ sát chân Thế Tôn và bạch: “Bạch Thế Tôn, chúng con đã bị lỗi lầm xâm chiếm, vì quá ngu muội, quá si ám, quá vụng về bất thiện, đã dám nghĩ rằng mình có thể công kích, bắt bẻ Thế Tôn! Kính mong Thế Tôn nhận lấy lỗi lầm này như một lỗi lầm, để chúng con biết phòng hộ ngăn ngừa trong tương lai.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn biểu hiện một nụ cười. Thấy vậy, các vị thiên ấy lại càng khởi tâm bắt bẻ dữ dội hơn, lập tức bay vút lên hư không. Một vị thiên liền đọc bài kệ trước mặt Thế Tôn:
Kẻ tự thú lỗi lầm,
Nếu ai không tha thứ;
Trong tâm ôm giận hờn,
Chỉ gieo thêm oán kết.

[Đức Thế Tôn dạy:]
Nếu không phạm lỗi lầm,
Nếu không hề lầm lạc;
Oán hận được dập tắt,
Mới vẹn toàn không tì vết.

[Vị thiên hỏi:]
Ai là người không lỗi?
Ai không hề lạc lối?
Ai chẳng hề bối rối?
Bậc trí nào thường niệm?

[Đức Thế Tôn dạy:]
Bậc Như Lai Đại Giác,
Thương xót khắp muôn loài;
Ngài không hề phạm lỗi,
Chẳng một bước lạc lối;
Không bao giờ bối rối,
Bậc Trí luôn chánh niệm.
Kẻ tự thú lỗi lầm,
Nếu ai không tha thứ;
Trong tâm ôm giận hờn,
Chỉ gieo thêm oán kết;
Oán kết Ta chẳng màng,
Ta tha thứ các ngươi!

Chú Thích

Ujjhānasaññino – “Những vị hay bắt lỗi” Theo Sớ giải Tương Ưng Bộ, không có một cõi chư thiên riêng biệt nào mang tên Ujjhānasaññino – “những vị hay bắt lỗi.” Đây là tên do các nhà kết tập kinh điển dùng để gọi nhóm chư thiên này, bởi họ đến gặp Đức Phật với ý định tìm lỗi nơi Như Lai, đặc biệt về cách Ngài sử dụng bốn món vật dụng (cattāro paccayā). Các vị thiên ấy suy nghĩ đại ý:  “Sa-môn Gotama tán thán đời sống tri túc với những vật dụng đơn sơ cho các Tỳ khưu, nhưng chính Ngài lại sống đầy đủ. Mỗi ngày Ngài thuyết Pháp cho đông đảo quần chúng. Lời nói của Ngài đi một đường, việc làm lại đi một đường khác.”

Như vậy, vấn đề họ nêu ra không đơn thuần là chuyện giàu nghèo, mà là lời cáo buộc về sự bất nhất giữa lời dạy và hành động.

Chi tiết: vehāsaṃ aṭṭhaṃsu – “họ đứng giữa hư không” cũng mang ý nghĩa đặc biệt. Thay vì đáp xuống đất, đến gần và đảnh lễ Đức Phật theo cung cách cung kính, họ vẫn đứng lơ lửng trên không trung để nói chuyện. Chú giải xem đây là dấu hiệu cho thấy ngay từ đầu họ đã đến với thái độ thiếu cung kính và có ý tìm lỗi. Điều này giúp ta hiểu tại sao kệ ngôn khởi đầu bằng câu: “Nói một đằng nhưng sống một nẻo.”

Kitava – con bạc gian trá hay người đánh bẫy chim. Trong câu:

Nikacca kitavasseva,
bhuttaṃ theyyena tassa taṃ.

từ kitava có một lịch sử ngữ nghĩa khá đặc biệt.

Sớ giải chú thích kitava là: sākuṇika – người đánh bẫy chim, người săn chim.

Người đánh bẫy chim ẩn mình sau cành cây và lá cây để chim không nhìn thấy. Khi chim vô tình đến gần, người ấy bắt hoặc giết chúng và dùng lợi tức ấy để nuôi sống gia đình. Chú giải dùng hình ảnh này để giải thích người đạo đức giả:

Người ấy cũng “ẩn mình” sau chiếc y bá nạp, khoác bên ngoài hình ảnh của một sa-môn, rồi dùng lời nói khéo léo để đánh lừa quần chúng. Nếu nhờ sự giả tạo ấy mà nhận và sử dụng bốn vật dụng:

1.    cīvara – y phục;

2.    piṇḍapāta – thức ăn;

3.    senāsana – trú xứ;

4.    gilānapaccayabhesajja – thuốc men và vật dụng trị bệnh,

thì sự thọ dụng ấy được chú giải gọi là: theyyaparibhoga – “thọ dụng như kẻ trộm.”

Điểm cần đặc biệt nhấn mạnh khi giảng bài là: Đây là lời cáo buộc của vị thiên nhắm vào Đức Phật, chứ không phải lời của Sớ giải xác nhận rằng Đức Phật hành xử như vậy. Cách giải thích kitava là “người bẫy chim” cũng xuất hiện trong Dhammapada-aṭṭhakathā III 375, khi chú giải Pháp Cú 252.

Tuy nhiên, ở Jātaka VI 228, kitava xuất hiện trong một ngữ cảnh khác và được chú thích: akkhadhutta – kẻ mê cờ bạc, người chơi xúc xắc.

Ngài Bodhi chọn dịch kitava ở SN 1.35 theo nghĩa “cheating gambler – con bạc gian lận.”  Vì vậy câu:

Nikacca kitavasseva,
bhuttaṃ theyyena tassa taṃ

có thể dịch:

Như con bạc gian manh,
Những gì người ấy hưởng
Đều như của trộm cắp.

Nhưng nếu theo cách giải của Chú giải:

Như người săn giấu mặt,
Lừa chim đến gần mình;
Kẻ giả hạnh cũng vậy,
Thọ dụng tựa của gian.

Hai cách hiểu không hoàn toàn mâu thuẫn. Điểm chung là sự che giấu con người thật nhằm đạt được lợi ích bằng lừa dối.

Tại sao Đức Phật mỉm cười? Sau khi các vị thiên nhận lỗi và thưa:

“Xin Đức Thế Tôn chấp nhận lỗi ấy là lỗi của chúng con, để chúng con biết phòng hộ trong tương lai.” Kinh không nói ngay rằng Đức Phật tha thứ. Thay vào đó:

Atha kho Bhagavā sitaṃ pātvākāsi.

“Bấy giờ Đức Thế Tôn biểu lộ một nụ cười.”

Tại sao? Theo Sớ giải, lời xin lỗi của các vị thiên lúc ấy vẫn chưa hoàn toàn phù hợp với sabhāva – bản chất thật của Đức Phật.

Họ vẫn đang ứng xử như thể không có sự khác biệt giữa: Tathāgata – Như Lai, bậc tối thượng trong thế gian và puthujjana – phàm phu ở thế gian. Nói cách khác, họ dường như nghĩ: “Chúng ta đã xúc phạm Ngài; có lẽ Ngài đang giận. Bây giờ chúng ta xin lỗi để Ngài hết giận.”

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: Như Lai không có sân hận để phải “hết giận.”

Theo Sớ giải, Đức Phật mỉm cười với ý nghĩ: “Khi cuộc đối thoại phát sinh từ đây, Ta sẽ biểu thị năng lực của một vị Phật, rồi sau đó Ta sẽ chấp nhận sự sám hối của họ.” Vì chưa hiểu nụ cười ấy, các vị thiên lại ujjhāyanti – bắt lỗi thêm lần nữa.

Họ cho rằng Đức Phật không chịu tha thứ nên thốt lời nói:

Accayaṃ desayantīnaṃ,
yo ce na paṭigaṇhati;
kopantaro dosagaru,
sa veraṃ paṭimuñcati.

Người nào không chấp nhận
Kẻ đã thú nhận lỗi,
Trong lòng còn sân giận,
Nặng nề bởi hận tâm,
Người ấy đang nuôi dưỡng
Mối oán hận trong lòng.

Chính sự hiểu lầm lần thứ hai này mở đường cho phần giáo pháp sâu nhất của bài kinh.

Theo chú thích của Ngài Bodhi có vấn đề dị bản Pāli Tenādha hay Kenīdha – Một Câu kệ của Đức Phật có một điểm văn bản học đáng chú ý:

Accayo ce na vijjetha,
nocidhāpagataṃ siyā;
verāni na ca sammeyyuṃ,
tenādha kusalo siyā.

Các ấn bản Pāli không hoàn toàn thống nhất ở pāda cuối.

Có ba dị bản chính:

Bản Tích Lan: tenādha
Bản Miến Điện: kenīdha
Bản Latin: ko nīdha

Ngài Bodhi theo bản Tích Lan, đọc là: tenādha thay vì kenīdha hay ko nīdha.

Một khó khăn nữa là cả Sớ giải lẫn Hậu Sớ Giải đều không cung cấp lời giải thích đầy đủ giúp xác định chắc chắn ý nghĩa của toàn câu kệ.

Riêng từ: kusala ở đây không nên vội hiểu theo nghĩa thông thường là “thiện, khéo léo.” Bhikkhu Bodhi dựa theo cách chú giải của Hậu Sớ Giải: anavajja – không đáng trách, không có lỗi, vô khuyết phạm.

Do đó ý nghĩa tổng quát của bài kệ có thể hiểu:

Nếu chẳng hề có lỗi,
Chẳng có bước lạc đường;
Nếu oán thù tự lắng,
Thì do đâu ở đời
Có người gọi “không lỗi”?

Câu này rất khó dịch sát vì chính bản Pāli có dị bản và Sớ giải cũng không giải quyết dứt khoát vấn đề văn bản.

Đáng chú ý hơn nữa, Ngài Bodhi cho biết bài kệ này đã bị bỏ sót trong bản dịch Kindred Sayings (KS 1:35) của Pali Text Society

Bài kinh diễn tiến qua một chuỗi tâm lý rất tinh tế:

1. Thành kiến:
Các vị thiên đã có sẵn một nhận định về Đức Phật.

2. Tìm lỗi – ujjhānasaññā:
Họ nhìn những gì Đức Phật làm qua nhận định có sẵn ấy.

3. Cáo buộc đạo đức giả:
Họ cho rằng lời nói và hành động của Ngài không tương ứng.

4. Đức Phật đưa vấn đề trở về thực hành:
Giải thoát không đạt được bằng lời nói hay nghe pháp suông mà bằng paṭipadā – con đường thực hành.

5. Nhận lỗi – accaya:
Các vị thiên nhận ra mình đã xúc phạm Đức Phật.

6. Hiểu lầm lần thứ hai:
Thấy Đức Phật chỉ mỉm cười, họ lại cho rằng Ngài không chịu tha thứ.

7. Đức Phật làm sáng tỏ bản chất của Như Lai:
Như Lai không phạm lỗi do mê lầm và không bị sân hận chi phối.

8. Chấm dứt oán hận:

Taṃ veraṃ nābhinandāmi,
paṭiggaṇhāmi vo accayaṃ.

Ta không vui thích hiềm hận

Sớ Giải

Ujjhānasaññikāti randhagavesikā, paresaṃ vajjadassanatāya uppannasaññā. Na hi koci ujjhānasaññikā nāma devaloko atthi. Imā pana devatāyo catupaccayanibaddhaṃ Tathāgatassa vajjaṃ pariyesitukāmā āgatā: "Samaṇo Gotamo bhikkhūnaṃ appicchakathampi katheti, attanā pana uḷāre paribhoge paribhuñjati, divase divase ca mahājanassa dhammaṃ deseti, aññathāssa vacanaṃ gacchati, aññathā kiriyā"ti.

Ujjhānasaññikā nghĩa là những kẻ rình rập tìm kẽ hở (randhagavesikā), tâm luôn khởi lên ý muốn săm soi khiếm khuyết của người khác (paresaṃ vajja-dassanatāya). Thật ra không hề có cõi trời nào mang tên "cõi chư thiên tìm lỗi". Nhóm chư thiên này được gọi như vậy vì họ tìm đến với ý đồ soi mói lỗi lầm của Như Lai quanh việc thọ dụng bốn món vật dụng. Họ nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama thuyết pháp dạy các tỳ-khưu thiểu dục, nhưng tự thân lại thọ dụng phẩm vật cao sang; ngày ngày thuyết pháp cho đại chúng, lời nói đi một đường còn hành động đi một nẻo."
Vehāsaṃ aṭṭhaṃsūti anādarapātukaraṇameva hetaṃ.

Vehāsaṃ aṭṭhaṃsu (đứng giữa hư không): Hành động đứng trên không trung này biểu thị rõ ràng sự bất kính, thiếu tôn trọng đối với bậc Đạo Sư.

Kitenassāti kitavena assa. Yathā sākuṇiko sākhapalāsena attānaṃ paṭicchādetvā upasaṅkamante sakuṇe māretvā dāradārakaṃ poseti; evameva ayamapi vañcako paṃsukūlena attānaṃ paṭicchādetvā kalyāṇavācatāya mahājanaṃ vañceti, kitavasseva kitavassa kattabbaṃ kataṃ hoti. Cattāro paccaye theyyaparibhogena paribhuñjatīti Bhagavati imaṃ gāthaṃ bhaṇati.

Kitenassa: Giống như một kẻ bẫy chim (sākuṇika). Như người đánh bẫy chim che giấu mình sau cành lá rậm rạp rồi sát hại bầy chim bay đến để nuôi sống vợ con; cũng vậy, kẻ lường gạt này giấu mình sau lớp áo vải vụn (phấn tảo), dùng lời đường mật gạt gẫm dân chúng. Sự thọ nhận bốn món vật dụng ấy chẳng khác nào thọ dụng trộm cắp. Vị thiên thốt ra câu kệ này là để ám chỉ Thế Tôn. (Theo Ja VI 228,19, từ này còn được giải thích là kẻ cờ bạc gian lận).

Sitaṃ pātvākāsīti: Kasmā panassa sitaṃ pātvakāsi? Imā kira devatā na Buddhānaṃ sabhāvena khamāpesuṃ, lokiyamanussānaṃ viyati amhākaṃ lokajeṭṭhassa ca koci viseso natthi ti maññamānā. Bhagavato etadahosi: "Iminā kira kāraṇena kathaṃ samuṭṭhāpetvā Buddhānubhāvaṃ dassetvā pacchā khamissāmī"ti sitaṃ akāsi. Sitaṃ pātvākāsi (Vì sao Đức Thế Tôn lại mỉm cười?): Bởi vì chư thiên ấy xin sám hối mà không hề nhận biết được tự tánh tôn quý phi phàm của chư Phật (sabhāva); họ hành xử như thể chẳng có sự khác biệt nào giữa bậc Tối Thượng ở đời với hạng người phàm tục thế gian. Khi ấy, Thế Tôn nghĩ rằng: "Nhân cơ duyên này, Ta sẽ gợi mở cuộc đàm đạo để hiển lộ Phật lực uy đức, rồi sau đó mới tha thứ cho họ." Chính vì ý nghĩ ấy mà Ngài mỉm cười.

Taṃ veraṃ nābhinandāmīti: Mayhaṃ verasaṅkhāto kopo natthi, tasmā tumhākaṃ taṃ accayaṃ paṭiggaṇhāmi.

Taṃ veraṃ nābhinandāmi: Ý nói "Nơi Ta hoàn toàn không có sự hiềm hận hay phẫn nộ. Do đó, Ta tiếp nhận lỗi lầm ấy của các ngươi, Ta tha thứ cho các ngươi."(Hết phần Sớ giải Kinh thứ tư)

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

 

IV. Phẩm Bầy Nghỉ (Satullapakāyikavagga)

V. Bới Vết (S.i,23)

1.Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá của ông Anāthapiṇḍika.
Rồi một số đông chư Thiên có tâm bới vết, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đứng trên hư không.

2. Rồi một vị Thiên đứng trên hư không, đọc bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Mình thật sự thế khác,
Lại hiện ra thế khác,
Thụ hưởng đồ trộm cắp,
Như bạc gian lận lừa.
(Một vị Thiên khác):
Làm sao, hãy nói vậy,
Không làm, chớ có nói,
Không làm, chỉ nói suông,
Bậc trí biết rõ ràng.
(Thế Tôn):
Không phải chỉ nói suông,
Không phải chỉ nghe suông,
Có thể tiến bước được,
Trên con đường kiên trì.
Nhờ đó bậc hiền trí,
Tu thiền thoát Ma trói.
Bậc trí không giả dối,
Hiểu rõ thói thế gian,
Tịch tịnh nhờ thắng trí,
Thoát khỏi tham trần gian.

3.    Rồi các vị Thiên ấy hạ mình xuống đất, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
— Bạch Thế Tôn, chúng con thật có lỗi, thật là ngu muội, thật là si ám, thật là bất thiện, vì chúng con đã nghĩ rằng có thể bắt bẻ Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm này của chúng con là một lỗi lầm, để chúng con ngăn ngừa trong tương lai!

4.    Rồi Thế Tôn mỉm cười.
Các vị Thiên ấy lại càng bới vết hơn nữa, liền bay lên hư không. Rồi một vị Thiên đọc bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ai không chịu tha thứ,
Người bày tỏ lỗi lầm,
Ôm phẫn nộ trong lòng,
Người ấy nuôi thù oán.
(Thế Tôn):
Nếu không có phạm lỗi,
Nếu không có lạc lối,
Nếu oán thù dập tắt,
Người ấy không tì vết.
(Một vị Thiên):
Ai là người không lỗi?
Ai không hề lầm lạc?
Ai không rơi si ám?
Ai trí, thường chánh niệm?
(Thế Tôn):
Như Lai, bậc Chánh Giác,
Lòng từ mẫn muôn loài,
Không bao giờ phạm lỗi,
Không bao giờ lầm lạc,
Không bao giờ si ám,
Bậc Trí, thường chánh niệm.
Ai không chịu tha thứ,
Người bày tỏ lỗi lầm,
Ôm phẫn nộ trong lòng,
Người ấy nuôi thù oán.
Ta không thích thù oán,
Ta tha thứ lỗi ngươi.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01