BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 26, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Quần Tiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.36
BÀI 036. HẠT GIỐNG KHỞI ĐẦU -
Kinh Niềm Tin (Saddhāsuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-036.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngNiềm tin (saddhā) là người bạn đồng hành của hành giả, nhưng niềm tin chân chánh phải dẫn đến thực hành chứ không dừng lại nơi sự tin tưởng hay kính ngưỡng.Vì vậy, bài kinh bắt đầu bằng Saddhā – niềm tin nhưng kết thúc bằng Paramaṃ Sukhaṃ – an lạc tối thượng, cho thấy niềm tin chỉ thật sự viên mãn khi đưa hành giả đến buông xả, đoạn tận phiền não và an lạc giải thoát.

Kinh văn

36. ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi —

 “saddhā dutiyā purisassa hoti,
 no ce assaddhiyaṃ avatiṭṭhati.
 yaso ca kittī ca tatvassa hoti,
 saggañca so gacchati sarīraṃ vihāyā”ti.
 atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi —
 “kodhaṃ jahe vippajaheyya mānaṃ,
 saṃyojanaṃ sabbamatikkameyya.
 taṃ nāmarūpasmimasajjamānaṃ,
 akiñcanaṃ nānupatanti saṅgā”ti.
 “pamādamanuyuñjanti, bālā dummedhino janā.
 appamādañca medhāvī, dhanaṃ seṭṭhaṃva rakkhati.
 “mā pamādamanuyuñjetha, mā kāmarati santhavaṃ.
 appamatto hi jhāyanto, pappoti paramaṃ sukhan”ti.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthī, tại Jetavana, ngôi già lam của ông Anāthapiṇḍika.

Khi đêm đã về khuya, một số vị thiên thuộc chúng Satullapa, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn bộ rừng Jeta, đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi đến, các vị ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên.

Bấy giờ, một vị thiên đứng sang một bên, đọc lên bài kệ này trước Đức Thế Tôn:

Niềm tin là bạn người,
Nếu bất tín không còn;
Thanh danh cùng uy tín,
Nhờ vậy được vang xa;
Khi thân này tan rã,
Người ấy sanh cõi trời.

Một vị thiên khác đọc lên những câu kệ này trước Đức Thế Tôn:

Hãy đoạn trừ sân hận,
Hãy từ bỏ kiêu mạn;
Vượt qua mọi kiết sử,
Không còn gì sở hữu;
Không chấp danh và sắc,
Khổ chẳng thể theo người.

Một vị thiên khác nói:

Kẻ ngu thiếu trí tuệ,
Đắm mình trong phóng dật;
Còn người có trí tuệ,
Giữ không phóng dật ấy,
Như tài sản tối thượng.

Chớ buông mình phóng dật,
Chớ thân cận dục lạc;
Người tinh cần thiền định,
Đạt an lạc tối thượng.

Chú thích

Bài kinh mở đầu bằng saddhā – niềm tin, nhưng không dừng lại ở niềm tin. Các bài kệ kế tiếp đưa hành giả tiến dần từ tín đến đoạn trừ sân và mạn, rồi đến không chấp thủ danh-sắc, không phóng dật, thiền định, và cuối cùng là an lạc tối thượng.

Dutiyā ở đây là sahāya: người đi cùng. Người không đi một mình. Khi hướng đến thiện thú trong nhân giới, thiên giới, hay khi hướng đến Niết-bàn, saddhā là bạn nâng đỡ, thúc đẩy, không để bước chân dừng lại. Câu sahāyakiccaṃ sādheti rất đáng để ý: đức tin “làm xong việc của bạn”. Bạn không chỉ đứng cạnh, mà gánh một phần đường.

Ba đích đến được kể liền nhau — devaloke manussaloke ceva nibbānañca — cho thấy saddhā trong bài này chưa bị thu hẹp thành tín của bậc Thánh thôi. Nó là sức tin đưa người đi đúng hướng trên cả hai bình diện: thế gian và xuất thế gian. Thiếu bạn ấy, người vẫn có thể có trí khôn hay có của, nhưng không có chỗ dựa để bước tiếp.

Assaddhiya không phải chỉ là “chưa tin”, mà là trạng thái bất tín đã chiếm chỗ và ở lại. Động từ avatiṭṭhati nhấn mạnh sự trụ lại. Chú giải nói gọn: yadi assaddhiyaṃ na tiṭṭhati — nếu bất tín không đứng vững trong tâm. Nghĩa là đức tin chỉ thật sự thành bạn khi bất tín không được phép đóng đô. Có tin mà bất tín vẫn nằm lì thì saddhā chưa phải dutiyā.

Yasa là vòng người quanh mình; kitti là tiếng tốt được nói ra. Một cái ở đám đông hiện tiền, một cái ở thanh danh lưu truyền. Chú giải tách hai từ để khỏi nhập thành một.

Tato móc ngược về điều kiện vừa nói: có đức tin làm bạn, và bất tín không trụ. Danh và tiếng không phải tự rơi xuống; chúng đến từ chỗ ấy.

Pañca saṅgā theo truyền thống chú giải là năm mối buộc: tham (rāga), sân (dosa), si (moha), mạn (māna), kiến (diṭṭhi). Anupatanti là rơi theo, đáp xuống, tấn công từ phía sau. Câu kinh nói người akiñcana — không còn gì để nắm, không bám nāmarūpa — thì các saṅga ấy không theo kịp. Chú giải giữ đúng hình ảnh: không phải các buộc tự biến mất trên danh nghĩa, mà chúng không còn chỗ để đáp xuống.

Đây là bước sâu hơn kệ mở đầu. Kệ thứ nhất còn nói đến cõi trời sau khi bỏ thân. Kệ này đã nói đến chỗ các buộc không còn theo được. Bạn đường saddhā đưa tới thiện thú; sự không bám danh sắc mới cắt đứt chỗ các saṅga có thể đáp.

Sớ giải không để anuyuñjati thành “thỉnh thoảng buông lung”. Karonti nibbattenti: họ tạo ra và làm cho phóng dật hiện hành, rồi bám lấy nó như một công việc. Người ngu không chỉ “có lúc thất niệm”; họ nuôi phóng dật.

Appamāda được ví không phải của cải thông thường, mà của tối thắng. Người trí không “biết không phóng dật” trên miệng; họ canh giữ không phóng dật như người nghèo khó canh viên ngọc. Hình ảnh này nối ngược SN 1.32: kẻ keo canh của vì sợ mất; người trí canh appamāda vì biết mất nó là mất hết chỗ đứng của pháp.

Theo Sớ giải, Jhāyati không bị để nguyên là “ngồi thiền” chung chung. Có hai cách “nhìn sát”:

1.    Lakkhaṇūpanijjhāna — quán sát vào tướngn trạng.

2.    Ārammaṇūpanijjhāna — quán niệm thiền án.

Ba tầng của con đường giải thoát được giải theo cùng một tên, nhưng việc làm khác nhau:

  • Vipassanā nhìn sát ba tướng (anicca, dukkha, anatta), nên gọi là lakkhaṇūpanijjhāna.
  • Magga hoàn tất công việc mà minh sát đã đưa tới (vipassanāya āgatakiccaṃ sādheti), nên cũng gọi là lakkhaṇūpanijjhāna.
  • Phala nhìn sát chân tướng của diệt đế, tức nirodhasacca (tathalakkhaṇaṃ nirodhasaccaṃ upanijjhāyati), nên cũng gọi là lakkhaṇūpanijjhāna.

Như vậy “tướng” ở đây không chỉ là ba tướng của hành. Ở Quả, tướng được nhìn là tướng như thật của diệt. Sớ giải cố ý cho thấy cùng một chữ jhāyanto trên kệ đã gồm cả lộ trình minh sát cho đến Đạo–Quả, không dừng ở định.

Sớ giải cũng nói về tám đẳng chí: bốn sắc định và bốn vô sắc. Chúng không nhìn ba tướng hay diệt đế, mà an chỉ trên đối tượng. Phân biệt này rất quan trọng cho câu appamatto hi jhāyanto. Người không phóng dật mà jhāyanto không bị chú giải co lại thành chỉ có thiền chỉ, cũng không bị đẩy hết sang thiền quán. Cả hai lối nhìn sát đều nằm trong chữ ấy. Nhưng đích đến cuối cùng của kệ thì được chốt ở câu sau.

Kệ nói pappoti paramaṃ sukhaṃ. Nếu đứng riêng, paramaṃ sukhaṃ có thể bị hiểu thành lạc thiền, lạc trời, hay lạc thế gian thù thắng. Chú giải cắt nghĩa dứt khoát: arahattasukha - hạnh phúc của bậc lậu tận la hán. Vậy lộ trình của bài kinh, theo sớ, không dừng ở “có đức tin thì được danh và sanh thiên”, cũng không dừng ở “có định thì được lạc”. Điểm cuối là lạc của bậc lậu tận.

Sớ giải

 36. chaṭṭhe saddhā dutiyā purisassa hotīti purisassa devaloke manussaloke ceva nibbānañca gacchantassa saddhā dutiyā hoti, sahāyakiccaṃ sādheti. no ce assaddhiyaṃ avatiṭṭhatīti yadi assaddhiyaṃ na tiṭṭhati. yasoti parivāro. kittīti vaṇṇabhaṇanaṃ. tatvassa hotīti tato assa hoti. nānupatanti saṅgāti rāgasaṅgādayo pañca saṅgā na anupatanti. pamādamanuyuñjantīti ye pamādaṃ karonti nibbattenti, te taṃ anuyuñjanti nāma. dhanaṃ seṭṭhaṃva rakkhatīti muttāmaṇisārādiuttamadhanaṃ viya rakkhati. jhāyantoti lakkhaṇūpanijjhānena ca ārammaṇūpanijjhānena ca jhāyanto.
tattha lakkhaṇūpanijjhānaṃ nāma vipassanāmaggaphalāni. vipassanā hi tīṇi lakkhaṇāni upanijjhāyatīti lakkhaṇūpanijjhānaṃ. maggo vipassanāya āgatakiccaṃ sādhetīti lakkhaṇūpanijjhānaṃ. phalaṃ tathalakkhaṇaṃ nirodhasaccaṃ upanijjhāyatīti lakkhaṇūpanijjhānaṃ. aṭṭha samāpattiyo pana kasiṇārammaṇassa upanijjhāyanato ārammaṇūpanijjhānanti veditabbā. paramaṃ nāma arahattasukhaṃ adhippetanti. chaṭṭhaṃ.

Trong bài kinh thứ sáu:

Saddhā dutiyā purisassa hoti — đối với người đang đi đến cõi trời, cõi người, và cả Niết-bàn, đức tin là người thứ hai, tức là bạn đồng hành; đức tin làm tròn phận sự của một người bạn.

No ce assaddhiyaṃ avatiṭṭhati — nếu sự bất tín không đứng lại thì không thể an lập.

Yaso — quyến thuộc, đoàn tùy tùng, sự vây quanh (parivāro).

Kitti — sự tuyên dương công đức, lời khen đúng (vaṇṇabhaṇanaṃ).

Tatvassa hoti — tato assa hoti: từ đó, do đó, những quả ấy có mặt cho người ấy.

Nānupatanti saṅgā — năm sự dính buộc, bắt đầu từ rāgasaṅga, không rơi xuống, không bám theo.

Pamādamanuyuñjanti — những ai làm ra phóng dật, sanh khởi phóng dật, chính họ được gọi là anuyuñjanti: theo đuổi, chuyên chú vào nó.

Dhanaṃ seṭṭhaṃva rakkhati — gìn giữ như giữ của quý hạng nhất: châu ngọc, bảo vật, tinh túy của tài sản (muttāmaṇisārādiuttamadhanaṃ).

Jhāyanto — người đang thiền quán theo hai lối: tánh - lakkhaṇūpanijjhāna và tướng - ārammaṇūpanijjhāna.

Lakkhaṇūpanijjhānaṃ nāma vipassanāmaggaphalāni — gọi là quán sát thật tánh, chính là minh sát, Đạo và Quả.

Aṭṭha samāpattiyo pana kasiṇārammaṇassa upanijjhāyanato ārammaṇūpanijjhānanti veditabbā — còn tám đẳng chí thì nên hiểu là ārammaṇūpanijjhāna, vì định tâm vào thiền án như kasiṇa.

Paramaṃ nāma arahattasukhaṃ adhippetanti — chữ paramaṃ nhằm chỉ lạc của A-la-hán.

Chaṭṭhaṃ — hết bài kinh thứ sáu.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

IV. Phẩm Bầy Nghỉ (Satullapakāyikavagga)

VI. Lòng Tin (S.i,25), (Tạp, Ðại 2,354b) - (Biệt Tạp, Ðại 2,473a)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm) tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).

2) Rồi rất nhiều quần tiên SatullapaKàyikà, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

3) Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Tín là người thứ hai,
Là bạn của loài Người,
Nếu không trú bất tín,
Ðược danh dự, xưng tán,
Sau khi bỏ thân này,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy.
Tham không thể đến được,
Với ai không có gì.
Kẻ ngu không trí tuệ,
Mới đam mê, phóng dật,
Kẻ trí không phóng dật,
Như giữ tài vật quý.
Chớ đam mê, phóng dật,
Chớ đắm say ái dục,
Thiền tư, không phóng dật,
Ðạt được tối thắng lạc.

 

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01