|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 28, tháng 09, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 037. MỘT VÂN TẬP HY HỮU - Kinh Thánh Hội (Samayasutta) .
Giữa khu rừng Đại Lâm (Mahāvana) thành Ca-tỳ-la-vệ, một cuộc hội ngộ hy
hữu bậc nhất trong lịch sử thế gian đã diễn ra: Đức Thế Tôn an tọa cùng
năm trăm vị Đại A-la-hán, và chư thiên từ mười phương thế giới quy tụ về
đông đủ để chiêm ngưỡng bậc Toàn Giác cùng Tăng đoàn thanh tịnh vô
nhiễm. Không gian rừng thiền bấy giờ không chỉ chấn động bởi uy đức của
Tăng già, mà còn rực rỡ bởi ánh sáng và niềm hoan hỷ của cõi trời. Bốn
vị thiên thuộc cõi Tịnh Cư (Suddhāvāsa) — cõi giới của các bậc Bất Lai
(Anāgāmī) thanh tịnh — đã đồng thời xuất hiện, mỗi vị cung kính dâng lên
Đức Phật một bài kệ xưng tán. Bốn bài kệ ấy tóm lược trọn vẹn cả pháp
giới và lý tưởng giải thoát: bài thứ nhất xưng tụng đại hội Pháp và Tăng
bảo vô song; bài thứ hai ngợi ca công hạnh thu thúc lục căn và chánh
định kiên cố của người đệ tử Phật; bài thứ ba tán thán tâm giải thoát
rốt ráo, nhổ sạch cọc cằn kiêu mạn như những thớt tượng chúa tự tại giữa
trần gian; và bài thứ tư tuyên bố phước lành tối thượng của người quy y
Tam Bảo — dứt trừ bốn đường ác và sanh thiên giới. Bài kinh nhắc nhở
chúng ta rằng: vẻ đẹp lớn nhất của thế gian không nằm ở cung vàng điện
ngọc, mà ngời sáng nơi một tâm hồn thuần tịnh đã điều phục trọn vẹn sáu
căn dưới cội cây giải thoát.
Kinh Văn
Evaṁ me sutaṁ. Ekaṁ samayaṁ Bhagavā Sakkesu viharati
Kapilavatthusmiṁ Mahāvane mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi
bhikkhusatehi sabbeh’eva arahantehi. Dasahi ca lokadhātūhi devatā
yebhuyyena sannipatitā honti Bhagavantaṁ dassanāya bhikkhusaṅghañca.
Atha kho catunnaṁ Suddhāvāsakāyikānaṁ devatānaṁ etadahosi: “Ayaṁ kho
Bhagavā Sakkesu viharati Kapilavatthusmiṁ Mahāvane mahatā
bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeh’eva
arahantehi. Dasahi ca lokadhātūhi devatā yebhuyyena sannipatitā honti
Bhagavantaṁ dassanāya bhikkhusaṅghañca. Yannūna mayampi yena Bhagavā
ten’upasaṅkameyyāma, upasaṅkamitvā Bhagavato santike paccekaṁ gāthaṁ
bhāseyyāmā”ti.
“Mahāsamayo pavanasmiṁ,
Tôi được
nghe như vầy.
Một thuở
Đức Thế Tôn ngự giữa những người Thích-ca (Sakya) tại Ca-tỳ-la-vệ
(Kapilavatthu), ở rừng Đại Lâm (Mahāvana), cùng với đại chúng Tỳ-khưu
khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Chư thiên từ mười thế
giới hầu hết đều tụ hội để chiêm bái Thế Tôn và Tăng đoàn Tỳ-kheo. Khi
ấy, bốn vị thiên thuộc cõi Tịnh Cư (Suddhāvāsa) khởi ý nghĩ: “Đức Thế
Tôn nay đang ngự tại Ca-tỳ-la-vệ trong rừng Đại Lâm cùng năm trăm
Tỳ-khưu khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán.
Chư thiên khắp mười thế giới phần
lớn đã tề tựu để chiêm bái Thế Tôn và Tăng chúng. Chi bằng chúng ta cũng
đến trước Thế Tôn, và nơi tôn nhan Ngài, mỗi người sẽ xướng lên một bài
kệ.” Rồi như người lực sĩ co duỗi cánh tay trong chớp mắt, bốn vị thiên
ấy biến mất khỏi cõi Tịnh Cư và hiển hiện ngay trước mặt Thế Tôn. Sau
khi đảnh lễ Thế Tôn, các vị ấy đứng sang một bên. Đứng một bên, một vị
thiên đọc bài kệ này trước Thế Tôn:
[Vị thiên
thứ nhất xướng:]
Đại hội giữa rừng sâu, [Vị thiên thứ hai xướng:]
Chư Tăng trú chánh định, [Vị thiên thứ ba xướng:]
Phá hoang địa, then gài, [Vị thiên thứ tư xướng:]
Những ai quy y Phật,
Chú thích
Bài kinh diễn ra tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong Đại Lâm – Mahāvana,
giữa xứ của người Sakya. Đức Thế Tôn đang trú tại đây cùng một đại chúng
gồm năm trăm vị Tỳ khưu, và đặc biệt, tất cả năm trăm vị đều đã chứng
quả A-la-hán. Chư thiên thuộc mười thế giới cũng tụ hội rất đông để
chiêm ngưỡng Đức Phật và Thánh chúng.
Bốn vị thiên thuộc Tịnh Cư Thiên (Suddhāvāsa) biết được đại hội hy hữu ấy
nên cũng đến yết kiến Đức Phật. Mỗi vị đọc lên một bài kệ ca ngợi Tăng
đoàn. Đây không phải một cuộc tụ hội vì quyền lực, tài sản hay danh
vọng. Đó là cuộc hội tụ quanh Giới, Định, Tuệ và sự giải thoát.
Mahāvana (Đại Lâm)
Khu rừng tự nhiên rộng lớn trải dài từ vùng Kapilavatthu lên đến chân rặng
Tuyết Sơn (Himavanta), nơi Đức Thế Tôn thường ngự cùng đại chúng Tăng
trong các mùa an cư hay các kỳ thuyết pháp đặc biệt.
Suddhāvāsa (Cõi Tịnh Cư)
Năm tầng trời sắc giới thanh tịnh (Avihā, Atappā, Sudassā, Sudassī,
Akaniṭṭhā) chỉ dành riêng cho các bậc Bất Lai (Anāgāmī) tái sanh và đắc
quả A-la-hán nhập Niết-bàn tại đó, không bao giờ quay lại cõi dục.
Mahāsamayo (Đại hội / Cuộc
quy tụ lớn)
Chỉ cho hội chúng thù thắng gồm bậc Đạo
Sư tối thượng, năm trăm vị Đại A-la-hán vô lậu và vô lượng chư thiên,
phạm thiên từ khắp mười phương vũ trụ.
Aparājitasaṅgha (Hội chúng
bất bại / Bất khả chiến bại)
Tăng đoàn
của các bậc A-la-hán đã chiến thắng hoàn toàn quân binh Ma vương, dập
tắt mọi kiết sử phiền não, không còn bất kỳ nghịch cảnh trần thế hay tà
thuyết nào lay chuyển được.
Ujukaṁ akaṁsu (Làm cho tâm
ngay thẳng)
Uốn nắn tâm thoát khỏi sự cong vẹo của
tham, sân, si, tà kiến, giải đãi; đạt đến trạng thái trực tâm, chánh
định kiên cố qua định chỉ quán.
Chetvā khīlaṁ chetvā
palighaṁ “Khai hoang, đập tan then gài”. Khīla (cọc/chướng ngại) biểu trưng cho 5 tâm
hoang vu (cetokhīla): hoài nghi Phật, Pháp, Tăng, Giới và bất hòa với
bạn đồng tu; Paligha (then cài cửa) dụ cho vô minh và ái dục ngăn
bít cửa ngõ giải thoát.
Indakhīlaṁ ūhacca (Nhổ bật
trụ đá Indra)
Indakhīla là trụ đá kiên cố dựng trước cổng thành hoặc biểu tượng của Đế Thích. Ở
đây ám chỉ kiêu mạn căn sâu dày (māna-atthambha) và tà kiến ngã chấp đã
bị tuệ quán nhổ bật tận gốc rễ.
Manejā (Không còn dao động)
Từ mā + ejā; ejā tức là ái dục gây rung động, khuấy
đảo nội tâm. Manejā là tâm thái tịch tịnh, bất động trước tám
ngọn gió đời (bát phong xuy bất động).
Susunāgā (Rồng con / Voi
chúa non trẻ)
Nāga trong kinh
điển vừa chỉ long thần vừa chỉ voi chúa uy dũng — hình ảnh ẩn dụ cho bậc
Đại hiệp sĩ A-la-hán dũng liệt, vô nhiễm, đã được bậc Hữu Nhãn (Cakkhumā
— Đức Phật) khéo điều phục hoàn toàn.
Saraṇaṁ gatāse (Đã quy y Tam
Bảo)
Dạng văn phạm cổ của gatā (những
người đã đặt trọn vẹn niềm tin và nương tựa nơi Phật bảo). Tâm tịnh tín
bất hoại nơi Phật bảo có năng lực dứt trừ ác nghiệp đọa xứ, mở ra nẻo
sanh thiên.
Sớ giải
Sattame: Mahāsamayoti
mahāsamavāyo. Pavanasmiti mahāvane. Devakāyāti devasaṅghā.
Dhammasamayanti dhammābhisamayasaṅkhātaṁ samayaṁ anuppattā.
Aparājitasaṅghanti rāgādīhi aparijitaṁ kilese jinitvā ṭhitaṁ
ariyasaṅghaṁ. Tatra bhikkhavoti tasmiṁ samaye te bhikkhū. Samādahaṁsūti
cittaṁ ekaggaṁ akaṁsu. Ujukaṁ akaṁsūti māyāsāṭheyya-vaṅkāni pajahitvā
ujubhāvaṁ nayiṁsu. Khīlanti rāgakhīlādīnaṁ catusu maggesu pahīnānaṁ
vasena vuttaṁ. Palighanti taṇhāpalighaṁ. Indakhīlanti mānatthambhaṁ.
Ūhaccāti samūhanitvā.
Trong bài kinh thứ bảy (của phẩm Satullapa):
Mahāsamayo
— Nghĩa là cuộc đại hội tụ, sự quy tụ vĩ đại (mahāsamavāyo).
Pavanasmiṁ
— Nghĩa là trong khu rừng lớn (mahāvane).
Devakāyā
— Nghĩa là các hội chúng chư thiên (devasaṅghā).
Dhammasamayaṁ — Nghĩa là đã đến tham dự cuộc hội họp nhằm mục đích chứng ngộ Chánh pháp
(dhammābhisamayasaṅkhātaṁ samayaṁ anuppattā).
Aparājitasaṅghaṁ — Nghĩa là Thánh chúng Tăng vô nhiễm, không hề bị khuất phục bởi tham ái
hay các phiền não (rāgādīhi aparijitaṁ), là bậc đã chiến thắng tất cả
phiền não mà đứng vững.
Tatra bhikkhavo
— Nghĩa là trong đại hội ấy, các vị Tỳ-kheo.
Samādahaṁsu — Nghĩa là các ngài đã an lập tâm vào trạng thái nhất tâm chánh định
(cittaṁ ekaggaṁ akaṁsu).
Ujukaṁ akaṁsu
— Nghĩa là gạt bỏ mọi sự quanh co dối trá gian manh, dẫn dắt tâm đạt đến
trạng thái chơn trực thuần tịnh.
Khīlaṁ
— Ám chỉ việc đoạn trừ các mũi cọc tâm như cọc ái, cọc sân bằng năng lực
bốn Đạo quả.
Palighaṁ
— Then cài cửa, tức là then chốt của ái dục (taṇhāpalighaṁ).
Indakhīlaṁ
— Nghĩa là trụ kiên cố của kiêu mạn ngã chấp (mānatthambhaṁ).
Ūhacca — Nghĩa là đã nhổ bật, bứng sạch tận gốc rễ.
Manejā
— Ejā được gọi là ái dục dao động; do không còn ái dục khuấy nhiễu
nên gọi là bậc tịch tĩnh bất động (manejā).
Susunāgā — Các bậc Thánh đệ tử được Đức Thế Tôn khéo điều phục nên ví như những
thớt voi chúa hiền thiện uy dũng (nāgā); tuy các ngài có vị mới xuất gia
không lâu nhưng đã đủ dũng lực hàng phục hành uẩn và phiền não nên được
ví như rồng non/voi non tài dũng.
Apāyabhūmiṁ
— Nghĩa là bốn cõi đọa xứ, ác thú, địa ngục (nirayādiduggatiṁ).
Devakāyaṁ paripūressanti
— Nghĩa là tái sanh làm cho các cõi trời thêm phần đông đảo, viên mãn
(devalokaṁ pūressantīti).
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập I - Thiên Có Kệ
[01] Chương I
Tương Ưng Chư Thiên
IV. Phẩm Bầy Nghỉ
(Satullapakāyikavagga)
VII. Tụ Hội
(S.i,26) - (Tạp, Ðại 2.323a) (Biệt Tạp, Ðại 2.411a) (S.i,26) (D.
20 Mahàsamaya, Trường, Ðại 1,79b - 81b)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca), tại
Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở rừng Ðại Lâm, cùng với đại chúng
Tỷ-kheo khoảng 500 vị, tất cả là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở
mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm
ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
2) Rồi bốn vị Tịnh cư thiên (Suddàvàsà) suy nghĩ như sau: "Thế
Tôn nay ở giữa dân chúng Sakka, thành Kapilavatthu, rừng Ðại
Lâm, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng 500 vị, tất cả đều là bậc
A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới, phần lớn cũng
thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Vậy
chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi chúng ta đọc một
bài kệ dâng lên Thế Tôn."
3) Rồi chư Thiên ấy nhanh như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đã co
lại, hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ Tịnh cư thiên và
hiện ra trước mặt Thế Tôn.
4) Chư Thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng
một bên, một vị Thiên đọc bài kệ trước Thế Tôn:
Ðại hội tại Ðại Lâm,
5) Rồi các vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
Tại đây chúng Tỷ-kheo,
6) Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
Như khóa gãy, chốt tháo,
7) Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước mặt Thế
Tôn:
Những ai quy y Phật,
Bài học lưu trữ Bài học lưu trữ năm 2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01 Bài học lưu trữ năm 2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01
Bài học lưu trữ năm
2024- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2023- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2022- |
|