|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 30, tháng 09, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 038. - KINH MẢNH ĐÁ (Sakalikasuttaṃ) .
Nỗi đau thể xác thuộc về quy luật tất yếu của sắc thân ngũ uẩn,
nhưng sự đau khổ về tinh thần lại hoàn toàn thuộc về phản ứng
của tâm thức. Khi đá nhọn làm rách bàn chân, thân thể Đức Phật
phải chịu những cảm thọ khốc liệt, đau nhói, buốt xé; thế nhưng,
giữa đỉnh điểm của khổ thọ sinh lý, nội tâm Ngài vẫn tĩnh lặng,
chánh niệm, tỉnh giác, không chút sầu não ưu phiền. Ngài nằm
nghiêng cánh hữu như dáng sư tử chúa nằm nghỉ, biểu thị phong
thái vô úy của bậc đã thuần phục trọn vẹn dòng tâm thức. Bảy
trăm vị thiên nhân nhóm Satullapa khi chiêm bái cảnh tượng ấy đã
tuần tự ngợi ca Ngài bằng những hình ảnh kiệt xuất nhất của sức
chịu đựng và thiện xảo: như thớt tượng dũng mãnh (nāga), như
chúa sơn lâm (sīha), như tuấn mã thuần chủng (ājānīya), như ngưu
vương (usabha), như trâu chở nặng (dhorayha), và như bậc hoàn
toàn tự điều phục (danta). Năng lực chịu đựng của bậc Giác Ngộ
không đến từ pháp ép xác khổ hạnh mù quáng hay sự đè nén cưỡng
bách, mà nở hoa từ một tâm định kiên cố và giải thoát tự tại—nơi
bản ngã và lòng kiêu mạn (māna) đã bị dập tắt hoàn toàn.
Kinh Văn
Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati
maddakucchismiṃ migadāye. Tena kho pana samayena bhagavato pādo
sakalikāya khato hoti. Bhasmā [bhisamā (sī. syā. kaṃ. pī.)] su
sudaṃ bhagavato vedanā vattanti sārīrikā dukkhā tibbā kharā
kaṭukā asātā amanāpā. Tā sudaṃ bhagavā sato sampajāno adhivāseti
avihaññamāno. Atha kho bhagavā catugguṇaṃ saṅghāṭiṃ paññāpetvā
dakkhiṇena passena sīhaseyyaṃ kappesi pāde pādaṃ accādhāya sato
sampajāno.
Tôi nghe như vầy. Một thuở Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương
Xá), ở vườn hươu Maddakucchi. Lúc bấy giờ, chân của Thế Tôn bị
một mảnh đá cứa rách. Những cảm thọ khốc liệt khởi lên nơi thân
Thế Tôn—những cảm thọ đau đớn, dữ dội, buốt nhói, xé ruột, khó
chịu, chẳng hề khả ái. Nhưng Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác kham
nhẫn chúng, không hề sầu muộn hay bất an. Rồi Thế Tôn cho trải
tấm y Tăng-già-lê gập tư, nằm nghiêng bên hông hữu theo thế nằm
sư tử chúa, chân gác lên chân, chánh niệm và tỉnh giác.
Khi đêm đã dần tàn, có bảy trăm vị thiên nhân thuộc nhóm
Satullapa, với nhan sắc tuyệt mỹ tỏa hào quang chiếu sáng khắp
cả Maddakucchi, đến trước mặt Thế Tôn; sau khi đảnh lễ, họ đứng
sang một bên.
Một vị thiên đứng một bên liền thốt lên lời cảm thán trước Thế
Tôn: “Tôn giả Gotama quả thật là bậc long tượng (nāga)!
Khi những cảm thọ khổ đau, dữ dội, buốt nhói, xé ruột, khó chịu,
không khả ý sinh khởi trên thân, ngài vẫn kham nhẫn với phong
thái của loài long tượng, chánh niệm, tỉnh giác, không chút nao
núng ưu sầu!”
Một vị thiên khác thốt lên: “Tôn giả Gotama quả thật là sư vương
(sīha)! Với phong thái của sư tử, ngài kham nhẫn những
cảm thọ đau nhói ấy, chánh niệm, tỉnh giác, không chút sầu
muộn.”
Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là tuấn mã
thuần chủng (ājānīya)!...”
Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là ngưu
vương dũng mãnh (usabha)!...”
Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là bậc kéo
nặng phi thường (dhorayha)!...”
Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là bậc đã
tự điều phục (danta)! Khi những cảm thọ khổ, dữ dội, buốt
nhói, xé ruột, khó chịu, không khả ý sinh khởi trên thân, ngài
kham nhẫn với phong thái của bậc tự điều phục, chánh niệm, tỉnh
giác, không hề bấn loạn.”
Rồi một vị thiên khác thốt lên lời cảm thán: “Hãy nhìn xem định
lực khéo tu tập và tâm khéo giải thoát của Ngài—không rướn tới
trước, không thụt lại sau, không cần nỗ lực cưỡng bức đè nén! Kẻ
nào nghĩ rằng có thể vượt trội hơn hay mưu hại một bậc long
tượng, dũng sĩ, tuấn mã, ngưu vương, thần mã gánh vác, và bậc
điều phục như thế, thì kẻ ấy há chẳng phải do mù quáng thiếu trí
tuệ sao?”
(Các bài kệ:)
Thông suốt năm
Phệ-đà,
Khát ái còn chi
phối,
Ưa mạn, tâm khó
phục, Đoạn mạn, tâm an định,
Chú Thích
Theo Sớ giải, thương tích
nơi chân Đức Phật
có liên hệ với âm mưu sát hại Ngài của
Devadatta – Đề-bà-đạt-đa. Devadatta đã lăn
một tảng đá lớn từ trên núi Gijjhakūṭa – Linh Thứu nhằm giết Đức
Phật. Tảng đá lớn bị chặn lại, nhưng một mảnh đá vỡ ra, bắn
trúng chân Đức Phật, làm chân Ngài bị thương và chảy máu. Vì vậy
câu kinh: “Bhagavato pādo sakalikāya khato hoti.” có thể hiểu:
“Chân Đức Thế Tôn bị một mảnh đá làm thương tích.” Sự kiện này
không phải một cơn đau thông thường mà xảy ra trong bối cảnh một
âm mưu sát hại Đức Phật. Câu chuyện đầy đủ về những âm mưu của
Devadatta được dẫn tới Vinaya II, 184–203. Cùng biến cố này cũng
làm bối cảnh cho SN 4.13. Theo Sớ giải Sāratthappakāsinī, bảy
trăm vị thiên đến thăm Đức Thế Tôn bao gồm toàn thể chư thiên
thuộc nhóm Satullapa.
Sáu biểu tượng tán dương Đức Phật
đặc biệt quan trọng vì Sớ giải giải thích lý do mỗi vị thiên
dùng một hình tượng khác nhau.
Nāga - bậc hùng lực.
Nāga được dùng để ca ngợi Đức Phật: do sức mạnh – bala. Đây
không đơn thuần là sức mạnh thể chất mà biểu thị sức mạnh tinh
thần của bậc có khả năng chịu đựng cảm thọ đau đớn mà tâm không
bị khuất phục.
Sīha - sư tử.
Đức Phật
được gọi là sīha – sư tử do sự vô úy – không sợ hãi. Thân đang
chịu đau nhưng tâm không hoảng sợ, chống đối hay dao động.
Ājānīya - tuấn mã thuần chủng.
Đức Phật được ví như ājānīya, một con tuấn mã thuần chủng. Sớ
giải chú thích theo hai hướng: do thông thạo những gì đã được
học; hoặc do biết rõ đâu là phương tiện thích hợp và đâu là
phương tiện không thích hợp. Do đó, ājānīya không chỉ
mang nghĩa “được huấn luyện”, mà còn hàm ý một bậc có sự hiểu
biết và khả năng phân biệt đúng đắn.
Nisabha - ngưu vương.
Đức Phật
được gọi là nisabha – ngưu vương: vì Ngài không có đối thủ. Hình
ảnh con bò đầu đàn tượng trưng cho địa vị tối thắng, không ai có
thể vượt hơn trong phẩm chất giác ngộ.
Dhorayha — bậc mang gánh nặng.
Dhorayha
vốn chỉ con vật có khả năng mang ách, kéo hoặc chuyên chở vật
nặng. Đức Phật được gọi như vậy: do khả năng mang gánh nặng.
Trong bối cảnh bài kinh, hình ảnh này đặc biệt thích hợp: Ngài
có thể chịu đựng cảm thọ thân dữ dội mà tâm không bị nghiền nát
bởi cảm thọ ấy.
Danta — bậc đã điều phục.
Danta nghĩa là: đã được điều phục, đã được thuần hóa. Sớ giải
nói Đức Phật được gọi là danta: vì Ngài không còn tà hạnh
hay hành vi lệch lạc. Ở tầng nghĩa tu tập, đây là hình ảnh của
một tâm đã hoàn toàn được điều phục, không còn chạy theo tham,
sân và si.
Như vậy, các vị thiên không chỉ nói sáu lần rằng Đức Phật “kham
nhẫn phi thường”. Mỗi hình tượng soi sáng một phương diện khác
nhau của nội lực giải thoát. Những biểu tượng trên thường được
khắc hoạ trong những tác phẩm nghệ thuật sau nầy để chỉ cho Đức
Phật.
Sớ giải chú thích một trong những câu khó nhất của bài kinh:
Passa samādhiṃ subhāvitaṃ
Có thể dịch ý:
Hãy nhìn định đã khéo tu tập,
Điểm quan trọng nhất nằm ở ba vế cuối.
Không nghiêng về phía trước - na cābhinataṃ:
Tâm đi cùng rāga – tham ái được gọi là: abhinata — nghiêng tới,
hướng tới. Khi gặp đối tượng khả ái, tâm phàm phu có khuynh
hướng: cảnh khả ái → hướng tới → muốn nắm giữ → tham. Tâm Đức
Phật không còn sự “nghiêng tới” ấy.
Không ngã về phía sau - Na cāpanataṃ
-
Tâm đi cùng dosa – sân được gọi là: apanata — nghiêng ra xa,
đẩy lui, chống đối. Khi gặp đối tượng khó chịu, tâm phàm phu
muốn: tránh → đẩy → chống → ghét. Nhưng tâm giải thoát không còn
phản ứng ấy. Như vậy:
abhinata → rāga → kéo về
apanata → dosa → đẩy ra
Tâm giải thoát đứng ngoài cả hai cực:
không chạy theo điều thích,
Điều này đặc biệt sâu sắc trong hoàn cảnh Đức Phật đang chịu
đau.
Đối tượng là một cảm thọ cực kỳ khó chịu, nhưng tâm không phát
sinh phản ứng “đẩy cái đau ra khỏi ta” bằng sân hận.
Không dùng lực để đè nén phiền não - Na ca
sasaṅkhāraniggayhavāritavataṃ
Ngài Bodhi dịch theo ý: “not blocked and checked by forceful
suppression” nghĩa là tâm không được giữ yên bằng cách dùng sức
cưỡng chế hay đè nén phiền não.
Sớ giải chú thích
: Na sasaṅkhārena sappayogena kilese niggahetvā vāritavataṃ.
Không phải nhờ:
sasaṅkhāra
— cố gắng có chủ ý, dụng công;
sappayoga
— nỗ lực, vận dụng sức;
kilese niggahetvā
— cưỡng chế, đè nén các phiền não,
mà tâm mới đứng yên. Tại sao? Kilesānaṃ pana chinnattā - Bởi vì
các phiền não đã bị cắt đứt. Đây chính là điểm khác biệt căn
bản.
Một hành giả còn là phàm nhân có thể phải:
thấy tham → dùng niệm chế ngự tham;
Phiền não vẫn còn tiềm ẩn, nhưng tạm thời bị chế ngự. Đó gần
với: vikkhambhanappahāna — đoạn trừ bằng cách đè nén/tạm chế
ngự. Nhưng đối với tâm của bậc A-la-hán, vấn đề hoàn toàn khác:
Không phải tham vừa sinh rồi Ngài đè tham xuống.
Do vậy, sự an tịnh ấy không phải kiềm chế, mà là giải thoát.
Sớ Giải
34.
catutthe kamanīyānīti rūpādīni iṭṭhārammaṇāni. apunāgamanaṃ
anāgantā puriso maccudheyyāti tebhūmakavaṭṭasaṅkhātā maccudheyyā
apunāgamanasaṅkhātaṃ nibbānaṃ anāgantā. nibbānañhi sattā na
punāgacchanti, tasmā taṃ apunāgamananti vuccati. taṃ kāmesu
baddho ca pamatto ca anāgantā nāma hoti, so taṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti, tasmā evamāha. chandajanti taṇhāchandato jātaṃ. aghanti
pañcakkhandhadukkhaṃ. dutiyapadaṃ tasseva vevacanaṃ.
chandavinayā aghavinayoti taṇhāvinayena pañcakkhandhavinayo.
Trong bài kinh thứ tám, chữ
maddakucchismiṃ chỉ khu vườn mang tên ấy. Khi vua Ajātasattu
(A-xà-thế) còn ở trong bụng mẹ, mẹ của ông (Hoàng hậu Videha)
được các nhà chiêm tinh báo trước rằng: “Thai nhi trong bụng
này sẽ là kẻ thù giết vua cha. Giữ lại nó có ích lợi gì?” Do
đó, bà đã cho người đè, ép mạnh vào bụng mình (kucchi
maddāpitā) nhằm mục đích phá thai. Vì tích ấy mà khu vườn
được gọi là Maddakucchi (nghĩa đen: “Nơi nắn ép bụng”).
Khu vườn này sau đó được dành cho loài nai sinh sống an ổn không
bị săn bắn nên gọi là Vườn Nai (migadāya).
Cụm từ
tena kho pana samayena (lúc bấy giờ) có
diễn tiến tuần tự như sau: Đề-bà-đạt-đa nương vào thế lực của
Ajātasattu, sai nhóm cung thủ phục kích rồi thả voi dữ
Dhanapālaka (Nāḷāgiri) tấn công, nhưng đều không thể hãm hại
tính mạng Thế Tôn. Hắn bèn nghĩ: “Ta sẽ tự tay đoạt mạng
Sa-môn Gotama”. Hắn vốn có sức mạnh tự nhiên dũng kiện như
năm thớt voi, bèn leo lên đỉnh núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa), nâng
một khối đá khổng lồ to bằng nóc lầu, rồi đẩy lăn xuống với ý
nghĩ: “Hãy làm cho Sa-môn Gotama tan tành thành bụi phấn!”
Thế nhưng, một chân lý bất biến (aṭṭhāna) là không kẻ nào
bằng mưu toan thế gian có thể tước đoạt mạng sống của một vị
Chánh Đẳng Giác. Khi tảng đá đang lao thẳng về phía thân Thế
Tôn, một tảng đá khác trong không gian bỗng trỗi lên đón đỡ. Sự
va đập dữ dội giữa hai khối đá làm bắn ra một mảnh vụn nhọn (sakalikā),
ghim trúng mu bàn chân Thế Tôn. Bàn chân Ngài bị tổn thương như
vừa trúng phải nhát rìu lớn, máu tươi tuôn trào đỏ rực như phủ
lớp nước sơn bóng (lākhārasa).
Thế Tôn ngước nhìn lên và bảo: “Này kẻ rỗng không kia, ngươi
đã tự tích tụ ác nghiệp vô lượng khi khởi tâm ác độc sát hại làm
đổ máu Như Lai!” Kể từ giây phút ấy, thân thể Ngài bị khó
chịu, nhức nhối. Chư Tỳ-khưu nghĩ rằng: “Nơi trú xứ này (Linh
Thứu) đất đai khô cằn hiểm trở, không đủ chỗ cho vua chúa và các
hàng xuất gia đến viếng thăm”, nên đã dùng cáng võng rước
Thế Tôn về vườn Maddakucchi. Vì duyên sự ấy kinh mới ghi:
“Lúc bấy giờ, chân của Thế Tôn bị mảnh đá cứa rách”.
Bhusā:
Khốc liệt, dồn dập, mạnh mẽ quá mức.
Sudaṃ:
Hư từ/trợ từ liên kết.
Dukkhaṃ:
Cảm thọ khổ, nghịch hẳn với an lạc (sukhapaṭikkhepa).
Tibbā:
Đậm đặc, dồn dập nhiều lớp.
Kharā:
Thô cứng, gai góc, ráp buốt.
Kaṭukā:
Sắc bén, đau buốt như dao cắt.
Asātā:
Cay đắng, tuyệt đối không có dư vị êm dịu ngọt ngào.
Amanāpā:
Không vừa ý, không hợp ý; tâm không dính mắc vào đó và chúng
cũng chẳng nuôi dưỡng hay đem lại sự thỏa thích cho tâm thức.
Sato sampajāno:
Đầy đủ chánh niệm và tỉnh giác trong năng lực chịu đựng cảm thọ
khổ (vedanādhivāsana).
Avihaññamāno:
Không bị bức bách sầu muộn, không lăn lộn trở mình trằn trọc
buông xuôi theo sự chi phối của cơn đau.
Về tư thế nằm, có bốn kiểu nằm:
1.
Kāmabhogiseyyā (Dáng nằm kẻ thọ dục):
Đại đa số nằm nghiêng bên trái; hầu như hiếm ai nằm nghiêng bên
phải. (Nằm bên trái làm dịch vị trào ngược, phong đại và bài
tiết khó lưu thông).
2.
Petaseyyā (Dáng nằm ngạ quỷ):
Đa phần nằm ngửa phơi bụng; do thân thể còm cõi ít máu thịt, chỉ
có khung xương dính lại nên không thể nằm nghiêng mà phải nằm
ngửa.
3.
Sīhaseyyā (Dáng nằm sư tử):
Sư tử chúa dồi dào năng lượng hỏa đại (tejussada). Nó xếp
hai chân trước đặt cùng một chỗ, hai chân sau cùng một chỗ, đuôi
khép nép giữa hai đùi, đầu gối lên hai chân trước, nằm nghiêng
hông hữu. Khi ngủ trọn ngày thức dậy, nó thức giấc trong tỉnh
táo không hề giật mình hoảng hốt. Nó chỉ khẽ ngẩng đầu kiểm tra
lại vị trí các chân và đuôi. Nếu thấy có chân nào xê dịch xộc
xệch, nó tự trách: “Tư thế này không xứng với nòi giống và
khí phách dũng mãnh của ngươi!”, rồi phật ý nằm lại chỗ cũ
không thèm đi săn. Nếu thấy mọi bộ phận vẫn ngay ngắn nguyên
vẹn, nó hoan hỷ: “Tư thế này thật xứng hợp với nòi giống dũng
sĩ!”, bèn đứng dậy vươn vai oai vệ, rung rũ bờm tóc, cất ba
tiếng rống chấn động sơn lâm rồi mới thong dong đi săn mồi.
4.
Tathāgataseyyā (Dáng nằm Như Lai):
Trạng thái an trú trong Đệ Tứ Thiền định (catutthajjhāna).
Trong kinh này, Thế Tôn chọn dáng nằm
Sư tử (sīhaseyyā) vì đây là oai nghi đệ nhất, tràn đầy
năng lượng tỉnh thức và kiên định.
Pāde pādaṃ accādhāya:
Đặt chân trái lên trên chân phải, nhưng đặt hơi dịch vượt ra
trước một chút (īsaṃ atikkamma). Bởi nếu hai mắt cá chân
chạm cấn mắt cá, hoặc hai đầu gối ép chặt trực tiếp lên nhau,
cảm thọ đau nhức cục bộ sẽ khởi sinh liên tục, tâm khó định
tĩnh, giấc nằm không an lạc. Khi đặt lệch ra trước để các khớp
xương không va cấn nhau, cảm thọ đau sẽ không khởi lên, tâm gom
về định, giấc nằm được an ổn. Ở đây không đề cập đến “tưởng thức
dậy” (uṭṭhānasaññā) như thường lệ vì đây là tư thế nằm
của bậc mang thân bệnh/thọ thương (gilānaseyyā).
Lời cảm thán (udāna)
của bảy trăm chư thiên:
Thông thường, người đến thăm người bệnh
mang vết thương nặng rất dễ nảy sinh tâm sầu muộn, xót xa (domanassa).
Thế nhưng khi chư thiên chiêm ngưỡng đức kham nhẫn của Đức Bổn
Sư, họ liền khởi tâm kính phục tột cùng: “Kỳ diệu thay uy lực
của chư Phật! Giữa những cơn đau xé ruột như thế mà Ngài không
hề có một nét biến sắc hay nao núng. Ngài nằm an nhiên bất động
như pho tượng vàng ròng đặt trên bảo sàng. Sắc diện Ngài lại
càng rạng rỡ bội phần, gương mặt tỏa sáng như trăng rằm, ngời
sắc như hoa sen mới nở, sắc da toàn thân rực sáng thanh tịnh như
vàng mười vừa được đánh bóng!” Chính vì niềm hoan hỷ kính
ngưỡng ấy mà họ đồng thanh thốt ra những lời cảm hứng tán thán.
Nāgo (Voi chúa/Long tượng):
Mang ý nghĩa là bậc có dũng lực kiên cố vô song, không chùn bước
trước bất kỳ mũi tên giáo mác nào.
Sīho (Sư tử):
Mang nghĩa là bậc dũng cảm, tuyệt đối không sợ hãi (asantāsana).
Ājānīyo (Tuấn mã thuần
chủng): Mang
nghĩa là bậc thấu suốt, thiện xảo trong
việc nhận biết điều gì là nguyên nhân xác đáng và phi nguyên
nhân (kāraṇākāraṇa-ñāṇa).
Usabho / Nisabho (Bò mộng
chúa): Mang nghĩa là vô song, không ai sánh
bằng (appaṭisama). Con đầu đàn của 100 con bò gọi là
usabha, của 1.000 con gọi là vasabha, của 100.000 con
gọi là nisabha. Đức Phật thành tựu vị thế vô song dũng
kiện (āsabhaṃ ṭhānaṃ), nên được xưng tụng là bậc
Nisabha.
Dhorayho (thần thú kéo nặng
phi thường):
Bậc chuyên chở gánh nặng luân hồi và
pháp độ cho chúng sinh qua biển khổ (dhuravāha).
Danto (Bậc Tự điều phục):
Bậc đã gột rửa trọn vẹn mọi thói tật, tập khí hoang dã (nibbisevana).
Passa (Hãy nhìn xem):
Lời mời gọi hướng tâm chiêm ngưỡng.
Samādhiṃ:
Định của Quả vị A-la-hán (arahattaphala-samādhi).
Suvimuttaṃ:
Tâm được giải thoát hoàn toàn nhờ quả giải thoát (phalavimutti).
Na cābhinataṃ na cāpanataṃ:
Tâm đi theo ái dục thì gọi là “rướn tới” (abhinata); tâm
đi theo sân hận chống đối thì gọi là “thụt lùi/chùn lại” (apanata).
Phủ định cả hai trạng thái ấy tức là tâm hoàn toàn xả ly, vắng
bặt cả tham và sân.
Na ca
sasaṅkhāraniggayhavāritagataṃ:
Không phải là trạng thái chế ngự, đè nén phiền não bằng sự dụng
công cưỡng bách có tạo tác (sasaṅkhāra). Ở đây phiền não
đã bị nhổ sạch tận gốc rễ (kilesānaṃ chinnattā), tâm an
định một cách tự nhiên trong Quả định.
Atikkamitabbaṃ:
Có ý định xúc phạm, lấn lướt, làm hại.
Adassanā:
Do vô minh, không có mắt trí tuệ. Chỉ có kẻ mù quáng si mê (andhabāla)
mới điên cuồng gây tội xúc phạm một bậc Đạo Sư vĩ đại như vậy;
lời này chư thiên nhắm thẳng vào sự u mê của Đề-bà-đạt-đa.
Pañcavedā:
Các vị Bà-la-môn thông hiểu làu làu năm bộ kinh Vệ-đà (tính cả
Sử thi Itihāsa là bộ thứ năm).
Tapassī:
Những kẻ nương náu vào lối tu khổ hạnh ép xác (tapanissitakā).
Dù họ có hành trì khắc nghiệt suốt cả trăm năm (vassasataṃ),
tâm họ vẫn không thể đạt được sự giải thoát chân chánh.
Hīnattarūpā:
Mang bản tính thấp hèn, hạ liệt, nên không thể vượt qua biển khổ
để đến bờ kia Niết-bàn. Dị bản đọc là hīnattharūpā mang
nghĩa là những kẻ bị đánh mất lợi ích tối thượng.
Taṇhādhipannā:
Bị lưới ái dục bủa vây, nhận chìm.
Vatasīlabaddhā:
Bị trói buộc vào các tà hạnh giới cấm thủ như hạnh con dê (ajavata),
hạnh con chó (kukkuravata)...
Lūkhaṃ tapaṃ:
Khổ hạnh thô thiển, rồ dại như thiêu mình dưới năm ngọn lửa (pañcātapa),
nằm trên nệm gai (kaṇṭakaseyya)...
Đoạn kệ cuối (Na
mānakāmassa...):
Vị thiên nhấn mạnh tính chất giải thoát
xuất thế (niyyānikabhāva) của Giáo pháp: Kẻ còn nuôi
dưỡng lòng kiêu mạn (māna) thì không thể tự chế ngự các
căn; kẻ thiếu định tĩnh thì không bao giờ thành tựu trí tuệ tịch
mặc (mona). Ngược lại, người dứt bỏ kiêu mạn, nội tâm
tịnh tín an định, sống không phóng dật giữa chốn rừng sâu mới là
bậc thực sự vượt qua dòng sinh tử của Thần Chết.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập I - Thiên Có Kệ
[01] Chương I
Tương Ưng Chư Thiên
IV. Phẩm Bầy Nghỉ
(Satullapakāyikavagga)
VIII. Mảnh Đá Nhọn
(Sakalika)
1.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá),
tại Maddakucchi, vườn Nai.
2.
Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị mảnh đá
vụn đâm phải. Cảm thọ khốc liệt khởi lên nơi thân Thế Tôn, đau
đớn, nhức nhối, mãnh liệt, đoạn trường, chát chua, không khả hỷ.
Nhưng Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác chịu đựng, không dao động.
Thế Tôn cho gấp tư tấm y Tăng-già-lê, nằm nghiêng hông bên phải,
như con sư tử, một chân gác trên chân kia, chánh niệm, tỉnh
giác.
3.
Rồi bảy trăm chư Thiên thuộc nhóm
Satullapa, đêm đã gần tàn, với nhan sắc tuyệt vời, chói sáng
toàn vùng Maddakucchi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế
Tôn rồi đứng một bên.
4.
Ðứng một bên, một vị Thiên thốt ra lời
cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:
— Thật là bậc Long tượng, thưa Tôn giả
Gotama! Vì là bậc Long tượng, nên khi cảm thọ khốc liệt khởi lên
nơi thân, đau đớn, nhức nhối, mãnh liệt, đoạn trường, chát chua,
không khả hỷ, Ngài chánh niệm, tỉnh giác chịu đựng, không dao
động.
5. Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm hứng này:
— Thật là bậc Tự điều, thưa Tôn giả
Gotama! Vì là bậc Tự điều, nên khi cảm thọ khốc liệt khởi lên
nơi thân, đau đớn, nhức nhối, mãnh liệt, đoạn trường, chát chua,
không khả hỷ, Ngài chánh niệm, tỉnh giác chịu đựng, không dao
động.
10.
Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm
hứng này trước mặt Thế Tôn:
— Hãy nhìn định lực khéo tu tập, và tâm
khéo giải thoát! Không rướn tới trước, không thối lui sau, không
phải bị chặn đứng, bị chận chế bởi nỗ lực ngăn chặn. Ai nghĩ
rằng có thể xúc phạm một con người như vậy, bậc Long tượng nhân
loại, bậc Anh hùng nhân loại, bậc Tuấn mã nhân loại, bậc Bò chúa
nhân loại, bậc Thần thú mang gánh nhân loại, bậc Tự điều nhân
loại, sự suy nghĩ ấy há chẳng phải do thiếu mắt trí tuệ sao?
11.
(Các vị Thiên:)
Dầu trải một trăm năm,
Bài học lưu trữ Bài học lưu trữ năm 2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01 Bài học lưu trữ năm 2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01
Bài học lưu trữ năm
2024- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2023- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2022- |
|