BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 30, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Quần Tiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.38
BÀI 038. -
KINH MẢNH ĐÁ (Sakalikasuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-038.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Nỗi đau thể xác thuộc về quy luật tất yếu của sắc thân ngũ uẩn, nhưng sự đau khổ về tinh thần lại hoàn toàn thuộc về phản ứng của tâm thức. Khi đá nhọn làm rách bàn chân, thân thể Đức Phật phải chịu những cảm thọ khốc liệt, đau nhói, buốt xé; thế nhưng, giữa đỉnh điểm của khổ thọ sinh lý, nội tâm Ngài vẫn tĩnh lặng, chánh niệm, tỉnh giác, không chút sầu não ưu phiền. Ngài nằm nghiêng cánh hữu như dáng sư tử chúa nằm nghỉ, biểu thị phong thái vô úy của bậc đã thuần phục trọn vẹn dòng tâm thức. Bảy trăm vị thiên nhân nhóm Satullapa khi chiêm bái cảnh tượng ấy đã tuần tự ngợi ca Ngài bằng những hình ảnh kiệt xuất nhất của sức chịu đựng và thiện xảo: như thớt tượng dũng mãnh (nāga), như chúa sơn lâm (sīha), như tuấn mã thuần chủng (ājānīya), như ngưu vương (usabha), như trâu chở nặng (dhorayha), và như bậc hoàn toàn tự điều phục (danta). Năng lực chịu đựng của bậc Giác Ngộ không đến từ pháp ép xác khổ hạnh mù quáng hay sự đè nén cưỡng bách, mà nở hoa từ một tâm định kiên cố và giải thoát tự tại—nơi bản ngã và lòng kiêu mạn (māna) đã bị dập tắt hoàn toàn.

Kinh Văn

Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati maddakucchismiṃ migadāye. Tena kho pana samayena bhagavato pādo sakalikāya khato hoti. Bhasmā [bhisamā (sī. syā. kaṃ. pī.)] su sudaṃ bhagavato vedanā vattanti sārīrikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā asātā amanāpā. Tā sudaṃ bhagavā sato sampajāno adhivāseti avihaññamāno. Atha kho bhagavā catugguṇaṃ saṅghāṭiṃ paññāpetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṃ kappesi pāde pādaṃ accādhāya sato sampajāno.
Atha kho sattasatā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ maddakucchiṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. Ekamantaṃ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi: “Nāgo vata, bho, samaṇo gotamo; nāgabhāvena kho panassa uppannā sārīrikā vedanā dukkhā tibbā kharā kaṭukā asātā amanāpā sato sampajāno adhivāseti avihaññamāno”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi: “Sīho vata, bho, samaṇo gotamo; sīhabhāvena kho panassa uppannā sārīrikā vedanā …pe… sato sampajāno adhivāseti avihaññamāno”ti.
Atha kho aparā devatā …pe… “Ājānīyo vata, bho, samaṇo gotamo; ājānīyabhāvena kho panassa uppannā sārīrikā vedanā …pe… “Usabho vata, bho, samaṇo gotamo; usabhabhāvena kho panassa uppannā sārīrikā vedanā …pe…
“Dhorayho vata, bho, samaṇo gotamo; dhorayhabhāvena kho panassa uppannā sārīrikā vedanā …pe… “Danto vata, bho, samaṇo gotamo; dantabhāvena kho panassa uppannā sārīrikā vedanā dukkhā tibbā kharā kaṭukā asātā amanāpā sato sampajāno adhivāseti avihaññamāno”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṃ udānaṃ udānesi: “Passa samādhiṃ subhāvitaṃ cittañca suvimuttaṃ, na cābhinato na cāpanato, na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagato. Yo evaṃbhūtaṃ purisanāgaṃ purisavīraṃ purisājānīyaṃ purisa-usabhaṃ purisadhorayhaṃ purisadantaṃ atikkamitabbaṃ maññeyya, kimaññatra adassana”nti.
[Gāthā:]
“Sataṃ vassaṃ sahassānaṃ, brāhmaṇā veda-antagū;
Tapassino caranti te, na tesaṃ sammā vimuttaṃ cittaṃ;
Hīnattarūpā na pāraṅgamā te.
Taṇhāvādhipannā vatasilabbatamantā,
Lūkhaṃ tapaṃ vassa-sataṃ carantā;
Na tesaṃ sammā vimuttaṃ cittaṃ,
Hīnattarūpā na pāraṅgamā te.
Na mānakāmassa damo idhatthi,
Na monamatthi asamāhitassa;
Eko araññe viharaṃ pamatto,
Na maccudheyyassa tareyya pāraṃ.
Hitvā ca mānaṃ susamāhitatto,
Cetopasādā abhinibbutatto;
Eko araññe viharaṃ appamatto,
Sa maccudheyyassa tareyya pāraṃ”ti.

Tôi nghe như vầy. Một thuở Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), ở vườn hươu Maddakucchi. Lúc bấy giờ, chân của Thế Tôn bị một mảnh đá cứa rách. Những cảm thọ khốc liệt khởi lên nơi thân Thế Tôn—những cảm thọ đau đớn, dữ dội, buốt nhói, xé ruột, khó chịu, chẳng hề khả ái. Nhưng Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác kham nhẫn chúng, không hề sầu muộn hay bất an. Rồi Thế Tôn cho trải tấm y Tăng-già-lê gập tư, nằm nghiêng bên hông hữu theo thế nằm sư tử chúa, chân gác lên chân, chánh niệm và tỉnh giác.

Khi đêm đã dần tàn, có bảy trăm vị thiên nhân thuộc nhóm Satullapa, với nhan sắc tuyệt mỹ tỏa hào quang chiếu sáng khắp cả Maddakucchi, đến trước mặt Thế Tôn; sau khi đảnh lễ, họ đứng sang một bên.

Một vị thiên đứng một bên liền thốt lên lời cảm thán trước Thế Tôn: “Tôn giả Gotama quả thật là bậc long tượng (nāga)! Khi những cảm thọ khổ đau, dữ dội, buốt nhói, xé ruột, khó chịu, không khả ý sinh khởi trên thân, ngài vẫn kham nhẫn với phong thái của loài long tượng, chánh niệm, tỉnh giác, không chút nao núng ưu sầu!”

Một vị thiên khác thốt lên: “Tôn giả Gotama quả thật là sư vương (sīha)! Với phong thái của sư tử, ngài kham nhẫn những cảm thọ đau nhói ấy, chánh niệm, tỉnh giác, không chút sầu muộn.”

Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là tuấn mã thuần chủng (ājānīya)!...”

Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là ngưu vương dũng mãnh (usabha)!...”

Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là bậc kéo nặng phi thường (dhorayha)!...”

Một vị thiên khác tán thán: “Tôn giả Gotama quả thật là bậc đã tự điều phục (danta)! Khi những cảm thọ khổ, dữ dội, buốt nhói, xé ruột, khó chịu, không khả ý sinh khởi trên thân, ngài kham nhẫn với phong thái của bậc tự điều phục, chánh niệm, tỉnh giác, không hề bấn loạn.”

Rồi một vị thiên khác thốt lên lời cảm thán: “Hãy nhìn xem định lực khéo tu tập và tâm khéo giải thoát của Ngài—không rướn tới trước, không thụt lại sau, không cần nỗ lực cưỡng bức đè nén! Kẻ nào nghĩ rằng có thể vượt trội hơn hay mưu hại một bậc long tượng, dũng sĩ, tuấn mã, ngưu vương, thần mã gánh vác, và bậc điều phục như thế, thì kẻ ấy há chẳng phải do mù quáng thiếu trí tuệ sao?”

(Các bài kệ:)

Thông suốt năm Phệ-đà,
Khổ hạnh đến trăm năm;
Nhưng tâm chưa giải thoát,
Bờ kia chẳng thể sang.

Khát ái còn chi phối,
Giới cấm vẫn buộc ràng;
Khổ hạnh dù trăm tuổi,
Giải thoát chẳng thể sang.

Ưa mạn, tâm khó phục,
Không định, trí chẳng thành;
Một mình nơi rừng vắng,
Phóng dật, tử ma quanh.

Đoạn mạn, tâm an định,
Trong sáng, thoát buộc ràng;
Một mình không phóng dật,
Vượt cảnh giới tử thần.

Chú Thích

Theo Sớ giải, thương tích nơi chân Đức Phật có liên hệ với âm mưu sát hại Ngài của Devadatta – Đề-bà-đạt-đa. Devadatta đã lăn một tảng đá lớn từ trên núi Gijjhakūṭa – Linh Thứu nhằm giết Đức Phật. Tảng đá lớn bị chặn lại, nhưng một mảnh đá vỡ ra, bắn trúng chân Đức Phật, làm chân Ngài bị thương và chảy máu. Vì vậy câu kinh: “Bhagavato pādo sakalikāya khato hoti.” có thể hiểu: “Chân Đức Thế Tôn bị một mảnh đá làm thương tích.” Sự kiện này không phải một cơn đau thông thường mà xảy ra trong bối cảnh một âm mưu sát hại Đức Phật. Câu chuyện đầy đủ về những âm mưu của Devadatta được dẫn tới Vinaya II, 184–203. Cùng biến cố này cũng làm bối cảnh cho SN 4.13. Theo Sớ giải Sāratthappakāsinī, bảy trăm vị thiên đến thăm Đức Thế Tôn bao gồm toàn thể chư thiên thuộc nhóm Satullapa.

Sáu biểu tượng tán dương Đức Phật đặc biệt quan trọng vì Sớ giải giải thích lý do mỗi vị thiên dùng một hình tượng khác nhau.

Nāga - bậc hùng lực. Nāga được dùng để ca ngợi Đức Phật: do sức mạnh – bala. Đây không đơn thuần là sức mạnh thể chất mà biểu thị sức mạnh tinh thần của bậc có khả năng chịu đựng cảm thọ đau đớn mà tâm không bị khuất phục.

Sīha - sư tử. Đức Phật được gọi là sīha – sư tử do sự vô úy – không sợ hãi. Thân đang chịu đau nhưng tâm không hoảng sợ, chống đối hay dao động.

Ājānīya - tuấn mã thuần chủng. Đức Phật được ví như ājānīya, một con tuấn mã thuần chủng. Sớ giải chú thích theo hai hướng: do thông thạo những gì đã được học; hoặc do biết rõ đâu là phương tiện thích hợp và đâu là phương tiện không thích hợp. Do đó, ājānīya không chỉ mang nghĩa “được huấn luyện”, mà còn hàm ý một bậc có sự hiểu biết và khả năng phân biệt đúng đắn.

Nisabha - ngưu vương. Đức Phật được gọi là nisabha – ngưu vương: vì Ngài không có đối thủ. Hình ảnh con bò đầu đàn tượng trưng cho địa vị tối thắng, không ai có thể vượt hơn trong phẩm chất giác ngộ.

Dhorayha — bậc mang gánh nặng. Dhorayha vốn chỉ con vật có khả năng mang ách, kéo hoặc chuyên chở vật nặng. Đức Phật được gọi như vậy: do khả năng mang gánh nặng. Trong bối cảnh bài kinh, hình ảnh này đặc biệt thích hợp: Ngài có thể chịu đựng cảm thọ thân dữ dội mà tâm không bị nghiền nát bởi cảm thọ ấy.

Danta — bậc đã điều phục. Danta nghĩa là: đã được điều phục, đã được thuần hóa. Sớ giải nói Đức Phật được gọi là danta: vì Ngài không còn tà hạnh hay hành vi lệch lạc. Ở tầng nghĩa tu tập, đây là hình ảnh của một tâm đã hoàn toàn được điều phục, không còn chạy theo tham, sân và si.

Như vậy, các vị thiên không chỉ nói sáu lần rằng Đức Phật “kham nhẫn phi thường”. Mỗi hình tượng soi sáng một phương diện khác nhau của nội lực giải thoát. Những biểu tượng trên thường được khắc hoạ trong những tác phẩm nghệ thuật sau nầy để chỉ cho Đức Phật.

Sớ giải chú thích một trong những câu khó nhất của bài kinh:

Passa samādhiṃ subhāvitaṃ
cittañca suvimuttaṃ,
na cābhinataṃ na cāpanataṃ,
na ca sasaṅkhāraniggayhavāritavataṃ.

Có thể dịch ý:

Hãy nhìn định đã khéo tu tập,
và tâm đã khéo giải thoát;
không nghiêng tới trước,
không ngả về sau,
cũng không bị chế ngự bằng sự cưỡng ép đầy dụng công.

Điểm quan trọng nhất nằm ở ba vế cuối.

Không nghiêng về phía trước - na cābhinataṃ: Tâm đi cùng rāga – tham ái được gọi là: abhinata — nghiêng tới, hướng tới. Khi gặp đối tượng khả ái, tâm phàm phu có khuynh hướng: cảnh khả ái → hướng tới → muốn nắm giữ → tham. Tâm Đức Phật không còn sự “nghiêng tới” ấy.

Không ngã về phía sau - Na cāpanataṃ - Tâm đi cùng dosa – sân được gọi là: apanata — nghiêng ra xa, đẩy lui, chống đối. Khi gặp đối tượng khó chịu, tâm phàm phu muốn: tránh → đẩy → chống → ghét. Nhưng tâm giải thoát không còn phản ứng ấy. Như vậy:

abhinata → rāga → kéo về

apanata → dosa → đẩy ra

Tâm giải thoát đứng ngoài cả hai cực:

không chạy theo điều thích,
cũng không chống lại điều không thích.

Điều này đặc biệt sâu sắc trong hoàn cảnh Đức Phật đang chịu đau.

Đối tượng là một cảm thọ cực kỳ khó chịu, nhưng tâm không phát sinh phản ứng “đẩy cái đau ra khỏi ta” bằng sân hận.

Không dùng lực để đè nén phiền não - Na ca sasaṅkhāraniggayhavāritavataṃ

Ngài Bodhi dịch theo ý: “not blocked and checked by forceful suppression” nghĩa là tâm không được giữ yên bằng cách dùng sức cưỡng chế hay đè nén phiền não.

Sớ giải chú thích : Na sasaṅkhārena sappayogena kilese niggahetvā vāritavataṃ. Không phải nhờ:

sasaṅkhāra — cố gắng có chủ ý, dụng công;

sappayoga — nỗ lực, vận dụng sức;

kilese niggahetvā — cưỡng chế, đè nén các phiền não,

mà tâm mới đứng yên. Tại sao? Kilesānaṃ pana chinnattā - Bởi vì các phiền não đã bị cắt đứt. Đây chính là điểm khác biệt căn bản.

Một hành giả còn là phàm nhân có thể phải:

thấy tham → dùng niệm chế ngự tham;
thấy sân → dùng định chế ngự sân;
thấy vọng tưởng → cố gắng đưa tâm trở lại.

Phiền não vẫn còn tiềm ẩn, nhưng tạm thời bị chế ngự. Đó gần với: vikkhambhanappahāna — đoạn trừ bằng cách đè nén/tạm chế ngự. Nhưng đối với tâm của bậc A-la-hán, vấn đề hoàn toàn khác:

Không phải tham vừa sinh rồi Ngài đè tham xuống.
Không phải sân vừa sinh rồi Ngài dùng định ngăn sân.
Căn nguyên khiến tham sân sinh khởi đã bị đoạn tận.

Do vậy, sự an tịnh ấy không phải kiềm chế, mà là giải thoát.

Sớ Giải

 34. catutthe kamanīyānīti rūpādīni iṭṭhārammaṇāni. apunāgamanaṃ anāgantā puriso maccudheyyāti tebhūmakavaṭṭasaṅkhātā maccudheyyā apunāgamanasaṅkhātaṃ nibbānaṃ anāgantā. nibbānañhi sattā na punāgacchanti, tasmā taṃ apunāgamananti vuccati. taṃ kāmesu baddho ca pamatto ca anāgantā nāma hoti, so taṃ pāpuṇituṃ na sakkoti, tasmā evamāha. chandajanti taṇhāchandato jātaṃ. aghanti pañcakkhandhadukkhaṃ. dutiyapadaṃ tasseva vevacanaṃ. chandavinayā aghavinayoti taṇhāvinayena pañcakkhandhavinayo.
aghavinayā dukkhavinayoti pañcakkhandhavinayena vaṭṭadukkhaṃ vinītameva hoti. citrānīti ārammaṇacittāni. saṅkapparāgoti saṅkappitarāgo. evamettha vatthukāmaṃ paṭikkhipitvā kilesakāmo kāmoti vutto. ayaṃ panattho pasūrasuttena (su. ni. 830 ādayo) vibhāvetabbo. pasūraparibbājako hi therena “saṅkapparāgo purisassa kāmo”ti vutte —
“na te kāmā yāni citrāni loke,
saṅkapparāgañca vadesi kāmaṃ.
saṅkappayaṃ akusale vitakke,
bhikkhūpi te hehinti kāmabhogī”ti. —
āha. atha naṃ thero avoca —
“te ce kāmā yāni citrāni loke,
saṅkapparāgaṃ na vadesi kāmaṃ.
passanto rūpāni manoramāni,
satthāpi te hehiti kāmabhogī.
suṇanto saddāni, ghāyanto gandhāni.
sāyanto rasāni, phusanto phassāni manoramāni.
satthāpi te hehiti kāmabhogī”ti.
athettha dhīrāti atha etesu ārammaṇesu paṇḍitā chandarāgaṃ vinayanti. saṃyojanaṃ sabbanti dasavidhampi saṃyojanaṃ. akiñcananti rāgakiñcanādivirahitaṃ. nānupatanti dukkhāti vaṭṭadukkhā pana tassa upari na patanti. iccāyasmā mogharājāti, “pahāsi saṅkhan”ti gāthaṃ sutvā tassaṃ parisati anusandhikusalo mogharājā nāma thero “imissā gāthāya attho na yathānusandhiṃ gato”ti cintetvā yathānusandhiṃ ghaṭento evamāha. tattha idha vā huraṃ vāti idhaloke vā paraloke vā. naruttamaṃ atthacaraṃ narānanti kiñcāpi sabbe khīṇāsavā naruttamā ceva atthacarā ca narānaṃ, thero pana dasabalaṃ sandhāyevamāha. ye taṃ namassanti pasaṃsiyā teti yadi tathāvimuttaṃ devamanussā namassanti, atha ye taṃ bhagavantaṃ kāyena vā vācāya vā anupaṭipattiyā vā namassanti, te kiṃ pasaṃsiyā, udāhu apasaṃsiyāti. bhikkhūti mogharājattheraṃ ālapati.
aññāya dhammanti catusaccadhammaṃ jānitvā. saṅgātigā tepi bhavantīti ye taṃ kāyena vā vācāya vā anupaṭipattiyā vā namassanti. te catusaccadhammaṃ aññāya vicikicchaṃ pahāya saṅgātigāpi honti, pasaṃsiyāpi hontīti. catutthaṃ.
.

Trong bài kinh thứ tám, chữ maddakucchismiṃ chỉ khu vườn mang tên ấy. Khi vua Ajātasattu (A-xà-thế) còn ở trong bụng mẹ, mẹ của ông (Hoàng hậu Videha) được các nhà chiêm tinh báo trước rằng: “Thai nhi trong bụng này sẽ là kẻ thù giết vua cha. Giữ lại nó có ích lợi gì?” Do đó, bà đã cho người đè, ép mạnh vào bụng mình (kucchi maddāpitā) nhằm mục đích phá thai. Vì tích ấy mà khu vườn được gọi là Maddakucchi (nghĩa đen: “Nơi nắn ép bụng”). Khu vườn này sau đó được dành cho loài nai sinh sống an ổn không bị săn bắn nên gọi là Vườn Nai (migadāya).

Cụm từ tena kho pana samayena (lúc bấy giờ) có diễn tiến tuần tự như sau: Đề-bà-đạt-đa nương vào thế lực của Ajātasattu, sai nhóm cung thủ phục kích rồi thả voi dữ Dhanapālaka (Nāḷāgiri) tấn công, nhưng đều không thể hãm hại tính mạng Thế Tôn. Hắn bèn nghĩ: “Ta sẽ tự tay đoạt mạng Sa-môn Gotama”. Hắn vốn có sức mạnh tự nhiên dũng kiện như năm thớt voi, bèn leo lên đỉnh núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa), nâng một khối đá khổng lồ to bằng nóc lầu, rồi đẩy lăn xuống với ý nghĩ: “Hãy làm cho Sa-môn Gotama tan tành thành bụi phấn!”

Thế nhưng, một chân lý bất biến (aṭṭhāna) là không kẻ nào bằng mưu toan thế gian có thể tước đoạt mạng sống của một vị Chánh Đẳng Giác. Khi tảng đá đang lao thẳng về phía thân Thế Tôn, một tảng đá khác trong không gian bỗng trỗi lên đón đỡ. Sự va đập dữ dội giữa hai khối đá làm bắn ra một mảnh vụn nhọn (sakalikā), ghim trúng mu bàn chân Thế Tôn. Bàn chân Ngài bị tổn thương như vừa trúng phải nhát rìu lớn, máu tươi tuôn trào đỏ rực như phủ lớp nước sơn bóng (lākhārasa).

Thế Tôn ngước nhìn lên và bảo: “Này kẻ rỗng không kia, ngươi đã tự tích tụ ác nghiệp vô lượng khi khởi tâm ác độc sát hại làm đổ máu Như Lai!” Kể từ giây phút ấy, thân thể Ngài bị khó chịu, nhức nhối. Chư Tỳ-khưu nghĩ rằng: “Nơi trú xứ này (Linh Thứu) đất đai khô cằn hiểm trở, không đủ chỗ cho vua chúa và các hàng xuất gia đến viếng thăm”, nên đã dùng cáng võng rước Thế Tôn về vườn Maddakucchi. Vì duyên sự ấy kinh mới ghi: “Lúc bấy giờ, chân của Thế Tôn bị mảnh đá cứa rách”.

Bhusā: Khốc liệt, dồn dập, mạnh mẽ quá mức.

Sudaṃ: Hư từ/trợ từ liên kết.

Dukkhaṃ: Cảm thọ khổ, nghịch hẳn với an lạc (sukhapaṭikkhepa).

Tibbā: Đậm đặc, dồn dập nhiều lớp.

Kharā: Thô cứng, gai góc, ráp buốt.

Kaṭukā: Sắc bén, đau buốt như dao cắt.

Asātā: Cay đắng, tuyệt đối không có dư vị êm dịu ngọt ngào.

Amanāpā: Không vừa ý, không hợp ý; tâm không dính mắc vào đó và chúng cũng chẳng nuôi dưỡng hay đem lại sự thỏa thích cho tâm thức.

Sato sampajāno: Đầy đủ chánh niệm và tỉnh giác trong năng lực chịu đựng cảm thọ khổ (vedanādhivāsana).

Avihaññamāno: Không bị bức bách sầu muộn, không lăn lộn trở mình trằn trọc buông xuôi theo sự chi phối của cơn đau.

Về tư thế nằm, có bốn kiểu nằm:

1.    Kāmabhogiseyyā (Dáng nằm kẻ thọ dục): Đại đa số nằm nghiêng bên trái; hầu như hiếm ai nằm nghiêng bên phải. (Nằm bên trái làm dịch vị trào ngược, phong đại và bài tiết khó lưu thông).

2.    Petaseyyā (Dáng nằm ngạ quỷ): Đa phần nằm ngửa phơi bụng; do thân thể còm cõi ít máu thịt, chỉ có khung xương dính lại nên không thể nằm nghiêng mà phải nằm ngửa.

3.    Sīhaseyyā (Dáng nằm sư tử): Sư tử chúa dồi dào năng lượng hỏa đại (tejussada). Nó xếp hai chân trước đặt cùng một chỗ, hai chân sau cùng một chỗ, đuôi khép nép giữa hai đùi, đầu gối lên hai chân trước, nằm nghiêng hông hữu. Khi ngủ trọn ngày thức dậy, nó thức giấc trong tỉnh táo không hề giật mình hoảng hốt. Nó chỉ khẽ ngẩng đầu kiểm tra lại vị trí các chân và đuôi. Nếu thấy có chân nào xê dịch xộc xệch, nó tự trách: “Tư thế này không xứng với nòi giống và khí phách dũng mãnh của ngươi!”, rồi phật ý nằm lại chỗ cũ không thèm đi săn. Nếu thấy mọi bộ phận vẫn ngay ngắn nguyên vẹn, nó hoan hỷ: “Tư thế này thật xứng hợp với nòi giống dũng sĩ!”, bèn đứng dậy vươn vai oai vệ, rung rũ bờm tóc, cất ba tiếng rống chấn động sơn lâm rồi mới thong dong đi săn mồi.

4.    Tathāgataseyyā (Dáng nằm Như Lai): Trạng thái an trú trong Đệ Tứ Thiền định (catutthajjhāna).

Trong kinh này, Thế Tôn chọn dáng nằm Sư tử (sīhaseyyā) vì đây là oai nghi đệ nhất, tràn đầy năng lượng tỉnh thức và kiên định.

Pāde pādaṃ accādhāya: Đặt chân trái lên trên chân phải, nhưng đặt hơi dịch vượt ra trước một chút (īsaṃ atikkamma). Bởi nếu hai mắt cá chân chạm cấn mắt cá, hoặc hai đầu gối ép chặt trực tiếp lên nhau, cảm thọ đau nhức cục bộ sẽ khởi sinh liên tục, tâm khó định tĩnh, giấc nằm không an lạc. Khi đặt lệch ra trước để các khớp xương không va cấn nhau, cảm thọ đau sẽ không khởi lên, tâm gom về định, giấc nằm được an ổn. Ở đây không đề cập đến “tưởng thức dậy” (uṭṭhānasaññā) như thường lệ vì đây là tư thế nằm của bậc mang thân bệnh/thọ thương (gilānaseyyā).

Lời cảm thán (udāna) của bảy trăm chư thiên: Thông thường, người đến thăm người bệnh mang vết thương nặng rất dễ nảy sinh tâm sầu muộn, xót xa (domanassa). Thế nhưng khi chư thiên chiêm ngưỡng đức kham nhẫn của Đức Bổn Sư, họ liền khởi tâm kính phục tột cùng: “Kỳ diệu thay uy lực của chư Phật! Giữa những cơn đau xé ruột như thế mà Ngài không hề có một nét biến sắc hay nao núng. Ngài nằm an nhiên bất động như pho tượng vàng ròng đặt trên bảo sàng. Sắc diện Ngài lại càng rạng rỡ bội phần, gương mặt tỏa sáng như trăng rằm, ngời sắc như hoa sen mới nở, sắc da toàn thân rực sáng thanh tịnh như vàng mười vừa được đánh bóng!” Chính vì niềm hoan hỷ kính ngưỡng ấy mà họ đồng thanh thốt ra những lời cảm hứng tán thán.

Nāgo (Voi chúa/Long tượng): Mang ý nghĩa là bậc có dũng lực kiên cố vô song, không chùn bước trước bất kỳ mũi tên giáo mác nào.

Sīho (Sư tử): Mang nghĩa là bậc dũng cảm, tuyệt đối không sợ hãi (asantāsana).

Ājānīyo (Tuấn mã thuần chủng): Mang nghĩa là bậc thấu suốt, thiện xảo trong việc nhận biết điều gì là nguyên nhân xác đáng và phi nguyên nhân (kāraṇākāraṇa-ñāṇa).

Usabho / Nisabho (Bò mộng chúa): Mang nghĩa là vô song, không ai sánh bằng (appaṭisama). Con đầu đàn của 100 con bò gọi là usabha, của 1.000 con gọi là vasabha, của 100.000 con gọi là nisabha. Đức Phật thành tựu vị thế vô song dũng kiện (āsabhaṃ ṭhānaṃ), nên được xưng tụng là bậc Nisabha.

Dhorayho (thần thú kéo nặng phi thường): Bậc chuyên chở gánh nặng luân hồi và pháp độ cho chúng sinh qua biển khổ (dhuravāha).

Danto (Bậc Tự điều phục): Bậc đã gột rửa trọn vẹn mọi thói tật, tập khí hoang dã (nibbisevana).

Passa (Hãy nhìn xem): Lời mời gọi hướng tâm chiêm ngưỡng.

Samādhiṃ: Định của Quả vị A-la-hán (arahattaphala-samādhi).

Suvimuttaṃ: Tâm được giải thoát hoàn toàn nhờ quả giải thoát (phalavimutti).

Na cābhinataṃ na cāpanataṃ: Tâm đi theo ái dục thì gọi là “rướn tới” (abhinata); tâm đi theo sân hận chống đối thì gọi là “thụt lùi/chùn lại” (apanata). Phủ định cả hai trạng thái ấy tức là tâm hoàn toàn xả ly, vắng bặt cả tham và sân.

Na ca sasaṅkhāraniggayhavāritagataṃ: Không phải là trạng thái chế ngự, đè nén phiền não bằng sự dụng công cưỡng bách có tạo tác (sasaṅkhāra). Ở đây phiền não đã bị nhổ sạch tận gốc rễ (kilesānaṃ chinnattā), tâm an định một cách tự nhiên trong Quả định.

Atikkamitabbaṃ: Có ý định xúc phạm, lấn lướt, làm hại.

Adassanā: Do vô minh, không có mắt trí tuệ. Chỉ có kẻ mù quáng si mê (andhabāla) mới điên cuồng gây tội xúc phạm một bậc Đạo Sư vĩ đại như vậy; lời này chư thiên nhắm thẳng vào sự u mê của Đề-bà-đạt-đa.

Pañcavedā: Các vị Bà-la-môn thông hiểu làu làu năm bộ kinh Vệ-đà (tính cả Sử thi Itihāsa là bộ thứ năm).

Tapassī: Những kẻ nương náu vào lối tu khổ hạnh ép xác (tapanissitakā). Dù họ có hành trì khắc nghiệt suốt cả trăm năm (vassasataṃ), tâm họ vẫn không thể đạt được sự giải thoát chân chánh.

Hīnattarūpā: Mang bản tính thấp hèn, hạ liệt, nên không thể vượt qua biển khổ để đến bờ kia Niết-bàn. Dị bản đọc là hīnattharūpā mang nghĩa là những kẻ bị đánh mất lợi ích tối thượng.

Taṇhādhipannā: Bị lưới ái dục bủa vây, nhận chìm.

Vatasīlabaddhā: Bị trói buộc vào các tà hạnh giới cấm thủ như hạnh con dê (ajavata), hạnh con chó (kukkuravata)...

Lūkhaṃ tapaṃ: Khổ hạnh thô thiển, rồ dại như thiêu mình dưới năm ngọn lửa (pañcātapa), nằm trên nệm gai (kaṇṭakaseyya)...

Đoạn kệ cuối (Na mānakāmassa...): Vị thiên nhấn mạnh tính chất giải thoát xuất thế (niyyānikabhāva) của Giáo pháp: Kẻ còn nuôi dưỡng lòng kiêu mạn (māna) thì không thể tự chế ngự các căn; kẻ thiếu định tĩnh thì không bao giờ thành tựu trí tuệ tịch mặc (mona). Ngược lại, người dứt bỏ kiêu mạn, nội tâm tịnh tín an định, sống không phóng dật giữa chốn rừng sâu mới là bậc thực sự vượt qua dòng sinh tử của Thần Chết.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

IV. Phẩm Bầy Nghỉ (Satullapakāyikavagga)

VIII. Mảnh Đá Nhọn (Sakalika)

1.    Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), tại Maddakucchi, vườn Nai.

2.    Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị mảnh đá vụn đâm phải. Cảm thọ khốc liệt khởi lên nơi thân Thế Tôn, đau đớn, nhức nhối, mãnh liệt, đoạn trường, chát chua, không khả hỷ. Nhưng Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác chịu đựng, không dao động. Thế Tôn cho gấp tư tấm y Tăng-già-lê, nằm nghiêng hông bên phải, như con sư tử, một chân gác trên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác.

3.    Rồi bảy trăm chư Thiên thuộc nhóm Satullapa, đêm đã gần tàn, với nhan sắc tuyệt vời, chói sáng toàn vùng Maddakucchi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

4.    Ðứng một bên, một vị Thiên thốt ra lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:

— Thật là bậc Long tượng, thưa Tôn giả Gotama! Vì là bậc Long tượng, nên khi cảm thọ khốc liệt khởi lên nơi thân, đau đớn, nhức nhối, mãnh liệt, đoạn trường, chát chua, không khả hỷ, Ngài chánh niệm, tỉnh giác chịu đựng, không dao động.

5. Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm hứng này:
— Thật là bậc Sư tử, thưa Tôn giả Gotama! Vì là bậc Sư tử... chịu đựng không dao động.
6. Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm hứng này:
— Thật là bậc Tuấn mã, thưa Tôn giả Gotama! Vì là bậc Tuấn mã...
7. Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm hứng này:
— Thật là bậc Bò đực chúa, thưa Tôn giả Gotama!...
8. Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm hứng này:
— Thật là bậc Thần thú mang gánh, thưa Tôn giả Gotama!...
9. Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm hứng này:

— Thật là bậc Tự điều, thưa Tôn giả Gotama! Vì là bậc Tự điều, nên khi cảm thọ khốc liệt khởi lên nơi thân, đau đớn, nhức nhối, mãnh liệt, đoạn trường, chát chua, không khả hỷ, Ngài chánh niệm, tỉnh giác chịu đựng, không dao động.

10.                       Rồi một vị Thiên khác thốt ra lời cảm hứng này trước mặt Thế Tôn:

— Hãy nhìn định lực khéo tu tập, và tâm khéo giải thoát! Không rướn tới trước, không thối lui sau, không phải bị chặn đứng, bị chận chế bởi nỗ lực ngăn chặn. Ai nghĩ rằng có thể xúc phạm một con người như vậy, bậc Long tượng nhân loại, bậc Anh hùng nhân loại, bậc Tuấn mã nhân loại, bậc Bò chúa nhân loại, bậc Thần thú mang gánh nhân loại, bậc Tự điều nhân loại, sự suy nghĩ ấy há chẳng phải do thiếu mắt trí tuệ sao?

11.                       (Các vị Thiên:)

Dầu trải một trăm năm,
Các vị Bà-la-môn,
Thông suốt cả năm Veda,
Tu tập các khổ hạnh,
Tâm họ không giải thoát,
Họ thuộc loại hạ liệt,
Không thể vượt qua bờ.
Bị khát ái xâm đoạt,
Hệ phược giới cấm thủ,
Tu khổ hạnh thô lỗ,
Suốt cả một trăm năm,
Tâm họ không giải thoát,
Họ thuộc loại hạ liệt,
Không thể vượt qua bờ.
Kẻ dục mạn, không điều,
Không định, không tịch tịnh,
Sống cô độc rừng sâu,
Phóng dật, không vượt bờ,
Ðược gọi cảnh Thần Chết.
Ðoạn mạn, khéo định tĩnh,
Tâm ý được tịnh tín,
Tự thân khéo an tịnh,
Sống cô độc rừng sâu,
Không phóng dật, vượt bờ,
Ðược gọi cảnh Thần Chết.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01